Tiểu Luận phát huy tối đa nguồn lực con người tại ngân hàng Công Thương

Thảo luận trong 'Quản Trị Kinh Doanh' bắt đầu bởi Thúy Viết Bài, 5/12/13.

  1. Thúy Viết Bài

    Thành viên vàng

    Bài viết:
    198,891
    Được thích:
    165
    Điểm thành tích:
    0
    Xu:
    0Xu
    LỜI MỞ ĐẦU

    Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở nước ta hiện nay đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Hệ thống ngân hàng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng cũng nằm trong quy luật cạnh tranh này. Nhận thức được điều đó, các NHTM đang nỗ lực hết sức để đa dạng hoá các sản phẩm, năng cao chất lượng phục vụ, nâng cao năng lực quản lý Mọi nỗ lực của các ngân hàng đều nhằm mục đích phát triển hoạt động kinh doanh, đổi mới các dịch vụ ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới.
    Chi nhánh ngân hàng Sài Gòn Công Thương Hà Nội là một chi nhánh của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương. Hiện nay, chi nhánh ngân hàng SGCT Hà Nội đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường, chủ động hội nhập, mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng.
    Trong thời gian thời gian thực tập tại chi nhánh ngân hàng SGCT Hà Nội, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ ngân hàng và đặc biệt là có sự hướng dẫn của cô giáo Ths. Văn Hoài Thu, em đã đi sâu tìm hiểu vấn đề huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng Sài Gòn Công Thương Hà Nội và mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại đây. Báo cáo của em bao gồm 3 phần:
    1. Tổng quan về ngân hàng Sài Gòn Công Thương – chi nhánh Hà Nội
    2. Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn tại chi nhánh NH SGCT HN
    3. Một số hạn chế và giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại
    chi nhánh NH SGCT HN






    1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI​ ​ 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH Sài Gòn Công Thương

    Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương có tên giao dịch quốc tế:
    SAIGON BANK FOR INDUSTRY AND TRADE
    Tên gọi tắt: SAIGONBANK
    Hội sở chính: 2 Phó Đức Chính – Quận 1 – Thành phố Hồ Chí Minh
    Website: Saigonbank.com.vn
    Là Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đầu tiên được thành lập trong hệ thống Ngân hàng cổ phần tại Việt Nam hiện nay, ra đời ngày 16/10/1987, trước khi có Luật Công ty và Pháp lệnh Ngân hàng, với vốn điều lệ ban đầu là 650 triệu đồng và thời gian hoạt động là 50 năm.
    Sau 20 năm thành lập, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương đã đạt được những thành tựu đáng kể:
    Tổng tài sản hơn 8.500 tỷ đồng
    Tăng vốn điều lệ từ 650 triệu đồng lên 1.020 tỷ đồng
    Vốn huy động đạt 7400 tỷ đồng
    Dư nợ cho vay đạt 6.400 tỷ đồng
    ( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của CN NH SGCT HN)
    Tính đến 31/12/2007, NH có quan hệ đại lý với 661 ngân hàng và chi nhánh tại 63 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Hiện nay, Saigonbank là đại lý thanh toán thẻ Visa, Master Card, JCB, CUP và là đại lý chuyển tiền kiều hối Moneygram.
    Mạng lưới hoạt động của Saigonbank được mở rộng gồm 43 chi nhánh và phòng giao dịch, 1 trung tâm thẻ Saigonbank, 1 công ty quản lý nợ và KTTS
    Cùng với sự phát triển của NH Sài Gòn Công Thương, chi nhánh Sài Gòn Công Thương Hà Nội cũng đã góp một phần không nhỏ vào những thành tựu mà NH đã đạt được.
    Chi nhánh được thành lập vào ngày 30/01/1993 theo giấy phép số 0015/GCT của NH Nhà nước.
    Ngày 29/11/1993, UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 631QĐ/UB cho phép thành lập chi nhánh NH Sài Gòn Công Thương với trụ sở hoạt động tại: 17 Tôn Đản – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội.
    Ngày 18.01.1994 chi nhánh chính thức khai trương và đi vào hoạt động.
    Sau một thời gian dài hoạt động chi nhánh đã chuyển trụ sở về 11A Đoàn Trần Nghiệp – Quận Hai Bà Trưng vào tháng 7/1997 và duy trì hoạt động từ đó đến nay.
    1.2. Cơ cấu tổ chức
    1.2.1. Tổ chức bộ máy
    Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn Công Thương HN

    [​IMG]














    1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban
    1.2.2.1. Phòng Kế toán
    Phòng Kế toán của chi nhánh Hà Nội cũng là phòng giao dịch, cung cấp các dịch vụ của NH cho khách hàng, đồng thời kết hợp với phòng Ngân quỹ để thu chi tiền mặt theo chứng từ hợp lý, hợp lệ.
    Phòng Kế toán thực hiện hạch toán các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay thu nợ thu lãi và các nghiệp vụ khác của chi nhánh theo quy định của NH Sài Gòn Công Thương. Đồng thời thực hiện công tác thanh toán, xây dựng kế hoạch tài chính, quyết toán thu chi theo kế hoạch tài chính, tổng hợp lưu giữ hồ sơ, hạch toán kinh tế, lập báo cáo thống kê.
    1.2.2.2. Phòng Kinh Doanh: gồm 2 bộ phận
    - Bộ phận Tín Dụng
    Thiết lập, duy trì và mở rộng các mối quan hệ với khách hàng, tiếp thị tất cả các sản phẩm dịch vụ của NH đối với khách hàng là doanh nghiệp theo đối tượng khách hàng được phân công, trực tiếp tiếp nhận các thông tin phản hồi từ phía khách hàng; nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ, chuyển đến Ban, Phòng liên quan để thực hiện theo chức năng.
    Phân tích doanh nghiệp, khách hàng vay theo quy trình nghiệp vụ, đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay, tổng hợp các ý kiến tham gia của các đơn vị chức năng có liên quan. Sau đó, quyết định trong hạn mức được giao hoặc trình duyệt các khoản cho vay bảo lãnh, tài trợ thương mại.
    Quản lý hậu giaỉ ngân, giám sát liên tục các khách hàng vay về tình hình sử dụng vốn vay, thường xuyên trao đổi với khách hàng để nắm vững tình trạng của khách hàng. Thực hiện cho vay, thu nợ theo quy định. Xử lý, gia hạn nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, chuyển nợ quá hạn, thực hiện các biện pháp thu nợ.
    - Bộ phận thanh toán quốc tế
    Trên cơ sở các hạn mức, khoản vay, bảo lãnh, L/C đã được phê duyệt, bộ phận Thanh toán quốc tế thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại, phục vụ các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng. Ví dụ: Dịch vụ hàng nhập: thư tín dụng, ĐP/DA, chuyển tiền ;Hàng Xuất: L/C xuất, kiều hối, thẻ chuyển tiền nhanh
    1.2.2.3. Phòng ngân quỹ
    Thực hiện các nghiệp vụ thu chi tiền mặt, vận chuyển tiền trên đường đI và quản lý an toàn kho quỹ. Thực hiện các dịch vụ két sắt, nghiệp vụ nhận cất giữ giấy tờ có giá bằng tiền và các tài sản quý của khách hàng, nhận kiểm đếm tiền cho các ngân hàng khác, thu đổi ngoại tệ cho khách hàng, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.










    1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh
    Bảng1.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của CN SGCT HN
    Đơn vị: tỷ đồng
    Kết quả kinh doanh
    2004
    2005
    2006
    2007
    Tổng thu nhập hoạt động

    36.7
    38,4
    82,4
    52.4
    Tổng chi phí hoạt động
    31,4
    46,4
    71,4
    43,5
    Lợi nhuận trước thuế
    5,3
    -8
    11
    8,9
    Dự phòng rủi ro
    3,5
    5,3
    1,2
    3,4
    (Nguồn: Phòng Kế toán Chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn Công Thương Hà Nộ)i​ Qua số liệu kết quả kinh doanh ở bảng trên ta thấy: lợi nhuận trước thuế của chi nhánh tăng lên qua các năm. Từ năm 2004 đến năm 2007 lợi nhuận tăng gần gấp đôi và có xu hướng tăng lên trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên một điều đáng quan tâm là trong năm 2005 lợi nhuân của chi nhánh là âm. Cũng như các chỉ tiêu tổng dư nợ, cơ cấu cho vay thì lợi nhuận của chi nhánh cũng có những biến động không đều. Quỹ dự phòng rủi ro giảm xuống qua các năm, cũng như các năm tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm một số lượng rất ít, bình quân khoảng 1.2% mỗi năm, và không có nợ xấu , do đó quỹ dự phòng được cắt giảm bớt, phục vụ cho hoạt động tín dụng.
    Tổng thu nhập của chi nhánh tăng qua các năm: cụ thể năm 2004 tăng 2.8% so với năm 2005, năm 2006 tăng 53.8% so với năm 2005, năm 2007 giảm 36.6% so với năm 2006. Sở dĩ có nguyên nhân như vậy là do năm 2007, 5 chi nhánh cấp 2 trực thuộc chi nhánh Hà Nội được tách ra hoạt động riêng thành các chi nhánh cấp 1 độc lập. Đồng thời chi nhánh mở rộng thêm 3 phòng giao dịch nên chi phí năm 2007 cũng tăng lên so với các năm khác và lợi nhuận cũng giảm khá nhiều.


    2. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CN NH SGCT HN 2.1. Tình hình huy động vốn
    2.1.1.Tổng nguồn vốn huy động:
    Bảng1.2 : Tổng nguồn vốn huy động trong 4 năm của CN NH SGCT HN​ Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu

    Năm 2004
    Năm 2005
    Năm 2006
    Năm 2007
    Số lượng
    %tăng
    (giảm)
    Số lượng
    % tăng (giảm)
    Số lượng
    %tăng
    (giảm)

    Tổng nguồn vốn​ 506,8​ 705,4​ 39,2​ 741,4​ 5,1​ 643,9​ -13,1​ (Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh Sài Gòn Công Thương Hà Nội)​ Qua số liệu về sự thay đổi tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh ta thấy:
    - Năm 2005: Tổng nguồn vốn huy động được là 705,4 tỷ đồng, tăng thêm 198,6 tỷ đồng (tương đương 39,2%) so với năm 2004.
    - Năm 2006: Tổng nghuồn vốn huy động là 705,4 tỷ đồng, tăng thêm 36 tỷ đồng (tương đương tăng 5,1%) so với năm 2005. Mức tăng này thấp hơn mức tăng của năm 2005.
    - Năm 2007: Tổng nguồn vốn huy động là 643,9 tỷ đồng, giảm 97,5 tỷ đồng (tương ứng giảm 13,1%) so với năm 2006.
    Trong 4 năm qua, tình hình huy động vốn của chi nhánh có những biến động đáng chú ý, nguồn vốn huy động năm 2007 có chiều hướng giảm sút, nguyên nhân là do khu vực quận Hai Bà Trưng tập trung khá nhiều ngân hàng hoạt động nên có sự cạnh tranh về hoạt động huy động vốn giữa các ngân hàng.
    2.1.2.Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng

    Bảng2.2: Cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng của CN NH SGCT HN​ Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu​ ​ ​ Năm 2004​ ​ ​ ​ Năm 2005Năm 2006Năm 2007​ ​ Số lượng​ ​ %tăng(giảm)​ ​ ​ Số lượng​ ​ ​ %tăng(giảm)​ ​ ​ Số lượng​ ​ ​ %tăng(giảm)​ ​ ​ ​ Cá nhân​ ​ ​ 316,1​ ​ ​ 584,8​ ​ ​ 85​ ​ ​ 660,7​ ​ ​ 12,9​ ​ ​ 573​ ​ ​ - 13,2​ ​ Tổ chức kinh tế​ 190,7​ 120,6​ - 36,76​ 80,7​ - 33,1​ 70,9​ - 12,1​
    ( Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh SGCT Hà Nội)​ Nguồn vốn huy động từ cá nhân luôn chiếm phần lớn hơn nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng, tỷ lệ huy động vốn từ cá nhân luôn chiếm hơn 60% tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ trên cao nhất vào năm 2006 là 85%. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng nguồn vốn huy động từ cá nhân có xu hướng giảm: từ 85% năm 2005 xuống còn 12,9% năm 2006, và năm 2007 là - 13,2%. Tương tự, nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế cũng giảm mạnh, năm 2005 giảm 36,76% so với năm 2004, năm 2006 giảm 33,1% so với năm 2005, năm 2007 giảm 12,1% so với năm 2006.
    Như vậy, qua 4 năm tình hình huy động vốn của chi nhánh nhìn chung chưa được tốt lắm, cần có biện pháp hữu hiệu để nâng cao khả năng huy động vốn. Tỷ lệ huy động từ cá nhân chiếm phần lớn nguồn vốn chứng tỏ chi nhánh đã đi đúng hướng trong công tác huy động vốn. Vì tiền gửi tiết kiệm cá nhân là lượng tiền nhàn rỗi lớn, có tính ổn định, vì thế có thể dùng làm vốn cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên hiệu quả của việc huy động nguồn vốn này đang có xu hướng giảm, ngân hàng cần tìm biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này. Còn tỷ lệ huy động từ các tổ chức kinh tế thấp chứng tỏ các tổ chức này chưa thực sự tin tưởng vào chi nhánh, chi nhánh SGCT Hà Nội cần nâng cao uy tín và xây dựng quan hệ tốt hơn để tăng khả năng thu hút tiền gửi từ các tổ chức này.
    2.1.3.Cơ cấu nguồn vốn theo kì hạn


    Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn theo kì hạn của chi nhánh SGCT Hà Nội
    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêuNăm 2004Năm 2005Năm 2006Năm 2007Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)​ Tiền gửi có kì hạn < 12 tháng​ 247​ 345​ 39,6​ 354,5​ 2,7​ 298,2​ -15,8​ Tiền gửi có kì hạn >= 12 tháng​ 259,8​ 360,4​ 38,7​ 386,9​ 7,3​ 345,7​ -10,6​ (Nguồn: Báo cáo thường niên của chi nhánh SGCT Hà Nội)
    - Năm 2004: nguồn vốn có kì hạn < 12 tháng là 247 tỷ đồng, chiếm 48,7% tổng nguồn huy động, nguồn vốn kì hạn > 12 tháng chiếm 51,3% tổng nguồn huy động.
    - Năm 2005: nguồn vốn có kì hạn < 12 tháng là 345 tỷ đồng, tăng 39,6% so với năm 2004, chiếm 48,9% tổng nguồn vốn huy động, nguồn vốn có kì hạn > 12 tháng cũng tăng thêm 38,7% so với năm 2004. Đây là sự tăng trưởng vượt bậc của nguồn vốn trong năm 2005, đặc biệt là nguồn kì hạn > 12 tháng. Đây là dấu hiệu tăng trưởng đáng mừng, thể hiện hiệu quả trong huy động vốn ngắn hạn của chi nhánh.
    - Năm 2006: mức tăng của nguồn vốn kì hạn < 12 tháng là 2,7% so với năm 2005, có thể thấy lượng tiền gửi không kì hạn và ngắn hạn của chi nhánh đã tăng lên nhưng so với năm 2005 thì mức tăng đã giảm nhiều. Nguồn vốn có kì hạn > 12 tháng là 386,9 tỷ đồng, tăng 7,3%, giảm nhiều so với mức tăng năm 2005.
    - Năm 2007: nguồn vốn có kì hạn < 12 tháng là 298,2 tỷ đồng, giảm 15,8% so với năm 2006, chiếm 46,3% tổng nguồn vốn huy động. Nguồn vốn có kì hạn > 12 tháng chiếm 53,7% tổng nguồn vốn, giảm 10,6% so với năm 2006.
    Sự sụt giảm này một lần nữa cho thấy sự cạnh tranh về huy động tiền gửi dài hạn của các ngân hàng trên địa bàn quận Hai Bà Trưng là khá gay gắt. Và chính lãi suất mà chi nhánh SGCT Hà Nội đang áp dụng cho nguồn vốn huy động kì hạn > 12 tháng thấp hơn các ngân hàng cùng địa bàn nên khó thu hút người dân và các tổ chức.
    Nhìn chung, trong cả 4 năm nguồn vốn kì hạn > 12 tháng luôn chiếm phần lớn (trên 50%) trong tổng nguồn huy động và có mức tăng trưởng đều và ổn định hơn so với nguồn vốn kì hạn < 12 tháng. Điều này cũng thể hiện sự tập trung huy động vốn trung và dài hạn của chi nhánh và sự ưa thích, tin tưởng những sản phẩm huy động vốn dài hạn của dân cư và các tổ chức trên địa bàn đối với chi nhánh SGCT Hà Nội. Hơn nữa, khi có được nguồn vốn dài hạn lớn, chi nhánh sẽ có điều kiện giảm bớt được việc dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, tức là giảm được rủi ro trong hoạt động.
    2.1.4. Cơ cấu nguồn vốn theo hình thức huy động
    Bảng 3.2: Các hình thức huy động vốn của chi nhánh SGCT
    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu​ Năm 2004​ Năm 2005Năm 2006Năm 2007Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)​ Tiền gửi tiết kiệm​ 34,3​ 86​ 60,1​ 101,7​ 18,2​ 180,3​ 77,2​ Tiền gửi thanh toán​ 120​ 127,5​ 6,2​ 154​ 20,8​ 98,7​ -35,9​ Tiền gửi có kì hạn​ 348​ 486​ 39,6​ 479​ -1,4​ 356​ -25,6​ Phát hành công cụ nợ​ 4,5​ 5,9​ 31,1​ 6,7​ 13,5​ 8,9​ 32,8​ (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng)​ - Trong cả 4 năm, 3 hình thức huy động là: tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kì hạn luôn chiếm số lượng lớn, cao gấp 2 đến 3 lần so với các hình thức còn lại. Tỷ lệ tăng trưởng chung của nhóm này cũng có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sự tăng trưởng của tiền tiết kiệm: năm 2004 tăng 60,1% so với năm 2004; năm 2006 tăng 18,2% so với năm 2005, năm 2007 tăng 77,2% so với năm 2006. Hình thức huy động bằng nhận tiền gửi tiết kiệm tăng đều qua 4 năm, chứng tỏ người dân ngày càng ưa thích gửi tiết kiệm tại chi nhánh.
    - Hình thức huy động phát hành công cụ nợ như kì phiếu, trái phiếu chính phủ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động và tăng rất chậm qua 4 năm.

    2.2. Tình hình hoạt động sử dụng vốn

    Bảng 4.2: Kết quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh SGCT Hà Nội

    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêuNăm 2004Năm 2005Năm 2006Năm 2007Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)Số lượng%tăng(giảm)​ Tổng dư nợ​ 256,9​ 701,1​ 172,9​ 316,7​ -54,8​ 501,4​ 58,3​ Cho vay ngắn hạn​ 188​ 593​ 215,4​ 284​ -108,8​ 450​ 58,4​ Cho vay trung và dài hạn​ 68,9​ 108,1​ 56,8​ 32,7​ -69,7​ 51,4​ 57,1​ Theo thành phần kinh tế​ ​ ​ ​ ​ ​ ​ ​ - Cá nhân
    155​ 401.3​ 158,9​ 120,2​ -70,1​ 301,8​ 151​ - Tổ chức kinh tế
    101,9​ 299,8​ 194,2​ 196,5​ -34,4​ 199,6​ 2,1​ (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng)​ Tổng dư nợ tín dụng tăng với tốc độ bình thường: năm 2007 tăng thêm 58,3% so với năm 2006, năm 2006 giảm 54,8% so với năm 2005, năm 2005 tăng 172,9% so với năm 2004. Như vậy có sự biến động chỉ tiêu tổng dư nợ của chi nhánh trong 4 năm, đến năm 2006 tốc độ tăng trở lại bình thường và tăng lên ở năm tiếp theo thể hiện chi nhánh đã thực hiện hoạt động cho vay có hiệu quả hơn trong năm 2007, điều này đồng nghĩa với khả năng tạo lợi nhuận của chi nhánh cũng tăng lên.
    - Dư nợ theo kì hạn: Cho vay vốn ngắn hạn vẫn chiếm phần lớn trong tổng cho vay. Cụ thể: năm 2004 cho vay ngắn hạn chiếm 73,1% tổng dư nợ, năm 2005: 84,5%, năm 2006: 89,6%, năm 2007: 89,7%. Cho vay ngắn hạn vẫn là hoạt động chiếm phần lớn tổng dư nợ của ngân hàng. Qua đó ta thấy nhu cầu vay vốn ngắn hạn tăng do nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu vốn lưu động trên địa bàn tăng lên, đồng thời ngân hàng tập trung vào mảng cho vay vốn đối với các đơn vị xây lắp (mảng khách hàng truyền thống của ngân hàng). Cũng có thể thấy điều này qua cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế:
    Dư nợ tín dụng cá nhân giảm mạnh vào năm 2006 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ. Cụ thể: năm 2004 tín dụng cá nhân chiếm 60,3% tổng dư nợ tín dụng, năm 2005 chiếm 57,2%, năm 2006 chiếm 37,9%, năm 2007 chiếm 60,2%.
    2.3. Tương quan giữa nguồn vốn huy động và tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng SGCT Hà Nội.
    Bảng 5.2: Nguồn vốn huy động và tổng dư nợ cho vay của CN NH SGCT HN
    Đơn vị: Tỷ đồng
    Năm
    Nguồn
    2004
    2005
    2006
    2007
    Nguồn vốn huy động
    506,8
    705,4
    741,4
    643,9
    Tổng dư nợ cho vay
    256,9
    701,1
    316,7
    501,4
    Tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và nguồn vốn huy động(%)
    50,7
    99,4
    42,72
    77,87
    (Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng)​ Qua bảng trên ta thấy tổng dư nợ ngày một tăng và hoạt động sử dụng vốn hiện khá tốt so với nguồn vốn huy động, tổng dư nợ cho vay so với nguồn vốn huy động đến cuối năm 2007 là 77,87%, tỷ lệ này tính trung bình cho cả 4 năm là 67,67%. Vốn mà ngân hàng huy động không những đáp ứng cho nhu cầu của mình mà còn phục vụ cho nhu cầu của các hệ thống.
    Nếu như xét trên một chi nhánh độc lập thì chi nhánh ngân hàng SGCT chưa sử dụng tối đa nguồn vốn huy động được nhưng nguồn vốn dư thừa đó được bổ sung vào nguồn vốn điều hoà trong hệ thống, mở rộng sự phát triển của cả hệ thống và đem lại lợi ích cho toàn ngành. Ngoài ra chi nhánh ngân hàng SGCT Hà Nội còn thực hiện tốt các chính sách của nhà nước trong việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Tổng nguồn vốn thu được thông qua việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của ngân hàng Trung ương là không nhỏ.
    Trên đây là toàn bộ tình hình huy động và sử dụng vốn của chi nhánh ngân hàng SGCT Hà Nội qua 4 năm gần đây. Qua đây chúng ta có thể thấy được những thành tích đạt được và một số yếu điểm cần khắc phục, qua đó có thể tìm ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.


    3. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH NH SGCT HÀ NỘI
    3.1 Một số hạn chế trong hoạt động huy động vốn và nguyên nhân
    -Vấn đề nóng nhất hiện nay là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng đang tăng lên rất cao. Những năm trước đây, Saigonbank là một trong những ngân hàng có lãi suất tiền gửi cao nhất, vì vậy đã thu hút được lượng tiền gửi từ dân cư rất lớn. Nhưng bước sang năm 2008, khi diễn ra cuộc cạnh tranh về lãi suất rất khốc liệt giữa các ngân hàng thì tiếc là Saigonbank đã không đưa ra được những chính sách hấp dẫn kịp thời để thu hút khách hàng, dẫn đến đã mất đi một lượng khách hàng đáng kể.
    Ví dụ gần đây nhất: Thời điểm tháng 6/2008, lãi suất cơ bản được NHNN ấn định là 14%, tức là mức lãi suất cho vay cao nhất đã lên đến 21%, rất nhiều ngân hàng đã đưa ra mức lãi suất tiền gửi cao (có ngân hàng lên tới 19,2%), áp dụng lãi suất bậc thang có lợi cho khách hàng, đồng thời đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi, rút thăm trúng thưởng . để thu hút khách hàng. Trong khi đó, mức lãi suất tiền gửi cao nhất của Saigonbank chỉ là 17,8% áp dụng cho tiền gửi tiết kiệm VND - kì hạn 3 tháng. Đó không phải là mức lãi suất thấp nhưng chưa đủ hấp dẫn khách hàng. Ngoài ra, Saigonbank không áp dụng lãi suất bậc thang cũng như các chương trình khuyến mãi, phiếu dự thưởng . như một số ngân hàng khác đã làm rất thành công.
    - Bàn thêm về vấn đề lãi suất bậc thang, vẫn biết rằng áp dụng lãi suất bậc thang đồng nghĩa với việc sẽ làm tăng chi phí huy động vốn. Thế nhưng nếu áp dụng lãi suất bậc thang một cách hợp lý sẽ làm tăng tính hấp dẫn của dịch vụ tiền gửi tiết kiệm lên rất nhiều. Hiện nay, mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm biến động liên tục, vì thế rất nhiều khách hàng có nhu cầu rút tiền gửi khi chưa đáo hạn để gửi lại theo kì hạn mới có lợi hơn hoặc đi gửi tại ngân hàng khác có lãi suất cao hơn. Tại Saigonbank, khi khách hàng rút tiền khi chưa đáo hạn thì chỉ được áp dụng lãi suất không kì hạn nên đã làm giảm sự hấp dẫn đối với khách hàng.
    - Các sản phẩm dịch vụ mới (sản phẩm thẻ) triển khai chậm, thiếu đồng bộ, phạm vi sử dụng của khách hàng còn ít, uy tín sản phẩm không cao. Ví dụ như dịch vụ rút tiền qua thẻ ATM, hiện nay chi nhánh chỉ có một số lượng rất ít máy rút tiền tự động đặt tại trụ sở và phòng giao dịch nên rất bất tiện cho khách hàng.
    - Ngoài ra, ngân hàng chưa quan tâm đầy đủ đến công tác marketing; công tác tuyên truyền, quảng cáo nên hình ảnh ngân hàng chưa đến được với đông đảo người dân.
    3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn
    - Mặc dù hiện nay các ngân hàng đang cạnh tranh về lãi suất rất khốc liệt nhưng tăng lãi suất đồng nghĩa với việc tăng chi phí huy động vốn, làm giảm lợi nhuận. Vì thế vấn đề đặt ra là ngân hàng cần phải ấn định được mức lãi suất phù hợp hấp dẫn được khách hàng nhưng vẫn phải đảm bảo lợi nhuận của ngân hàng. Đồng thời áp dụng lãi suất ưu đãi với các khách hàng lớn, áp dụng các chương trình khuyến mãi, rút thăm trúng thưởng . để hấp dẫn khách hàng.
    - Tiết kiệm chi phí hoạt động bằng cách nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực .Từng bước xây dựng và phát triển hệ thống ebanking, homebanking .để nâng cao hiệu quả hoạt động, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Mặc dù ngân hàng sẽ mất một khoản chi phí lớn vào việc phát triển các hệ thống này nhưng bù lại nó sẽ giúp ngân hàng giảm bớt số lượng nhân viên và các phòng giao dịch, do đó về lâu dài sẽ tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
    - Đa dạng hoá các hình thức gửi tiền trong dân cư bao gồm cả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi sử dụng thẻ, trái phiếu, kỳ phiếu. Đồng thời, ngân hàng cũng cần đa dạng hoá các loại kỳ hạn, ví dụ như kì hạn 1 tuần, 3 tuần, 5 tuần .để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
    - Đa dạng hóa tài khoản tiền gửi cá nhân
    Để tăng số lượng tài khoản này lên, đồng nghĩa với việc tăng doanh số thanh toán qua tài khoản, chi nhánh cần chú ý hơn nữa đến hình thức:
    * Áp dụng mức lãi suất phù hợp hơn, hấp dẫn khách hàng mở tài khoản, kết hợp với các dịch vụ thanh toán, chi trả hộ khách hàng. Hướng dẫn cho khách hàng thấy được những tiện ích khi sử dụng tài khoản này để họ hiểu được những ưu điểm của tài khoản và sử dụng nó.
    * Ngân hàng có thể áp dụng việc theo dõi 2 tài khoản song song của khách hàng tức là khi tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng có số dư cao, Ngân hàng sẽ chuyển bớt sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để giúp khách hàng không bị thiệt. Ngược lại, khi khách hàng có nhu cầu thanh toán cao, Ngân hàng sẽ tự động chuyển tiền gửi có kỳ hạn thành tiền gửi thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng làm được như vậy sẽ tạo ra sự nhanh chóng, tiện lợi hơn cho khách hàng. Đồng thời cũng giúp Ngân hàng giảm giai đoạn rút tiền nhiều lần, tốn thời gian và chi phí.
    * Ngân hàng cũng có thể liên kết với các doanh nghiệp để làm dịch vụ mở tài khoản chi trả lương cho các khách hàng là cán bộ công nhân viên làm việc ở các doanh nghiệp có thu nhập ổn định.
    * Liên hệ với các trường Đại học, Cao đẳng .trên địa bàn như ĐH Bách Khoa, ĐH Xây Dựng, ĐH Kinh Tế .để cùng nhà trường mở tài khoản cho sinh viên trong trường. Làm được điều này có lợi cho cả Ngân hàng, nhà trường và cả sinh viên. Đối với Ngân hàng, đây là một nguồn huy động dồi dào vì hiện nay số lượng sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng . là rất lớn. Về phía nhà trường và sinh viên, sẽ dễ dàng hơn trong việc thu học phí và các chi phí, lệ phí khác.
    - Gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả: trong hoạt động Ngân hàng, giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có quan hệ thường xuyên, tác động hỗ trợ lẫn nhau, chi phối lẫn nhau. Nguồn vốn là cơ sở, là tiền đề để Ngân hàng thực hiện công tác sử dụng vốn. Và sử dụng vốn cũng là căn cứ quan trọng để Ngân hàng xác định nguồn vốn cần huy động. Hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau nên chi nhánh cần đưa ra các giải pháp thích hợp để việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất.
    - Thực hiện tốt chính sách khách hàng và chiến lược marketing hiệuquả: thu hút nhiều khách hàng, duy trì, mở rộng khách hàng truyền thống, đảm bảo lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Vì lợi ích của khách hàng, ngân hàng cần có phòng Marketing riêng chuyên thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu của khách hàng, phân loại thị trường, phân loại khách hàng để từ đó có cách đối xử cho phù hợp.
    Thêm vào đó, Saigonbank cần có những hình thức tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu để đưa thông tin đến với khách hàng để họ biết tới hoạt động của ngân hàng. Đồng thời họ thấy được lợi ích khi giao dịch với ngân hàng, về lãi suất, về các chính sách ưu đãi của các hình thức huy động vốn của ngân hàng.
    - Phát huy tối đa yếu tố con người: đây không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là về lâu dài nhằm phát triển vững chắc hoạt động kinh doanh của Saigonbank. Vì vậy, Saigonbank cần đào tạo lại để nâng cao trình độ nghiệp vụ, có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, một cán bộ ngân hàng hiện đại không chỉ cần thành thạo về nghiệp vụ mà còn là phải hiểu biết về nhiều lĩnh vực, là chuyên gia tư vấn, marketing

    KẾT LUẬN​ ​ Để tạo dựng được một chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế đầy biến động như hiện nay đòi hỏi ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương cần phải xây dựng và thực hiện một chính sách đồng bộ về tất cả các mặt: đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt, gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả, thực hiện tốt chính sách khách hàng và chiến lược marketing, đổi mới công nghệ ngân hàng, phát huy tối đa yếu tố con người Định hướng của ngân hàng đến năm 2010 là phát triển ngân hàng Sài Gòn Công Thương theo hướng hiện đại, phấn đấu trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần cung ứng sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao dựa trên công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến, áp dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng thương mại. Để thực hiện được mục tiêu đó cần có sự nỗ lực của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng Sài Gòn Công Thương cũng như những chính sách hỗ trợ tích cực của Nhà nước.
    Do thời gian và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
    Em xin chân thành cảm ơn!
     

    Các file đính kèm:

Đang tải...