Thạc Sĩ Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu trái cây Việt Nam sang thị trường các nước Châu Á của côn

Thảo luận trong 'THẠC SĨ - TIẾN SĨ' bắt đầu bởi Phí Lan Dương, 26/11/15.

  1. Phí Lan Dương

    Phí Lan Dương New Member
    Thành viên vàng

    Bài viết:
    18,524
    Được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    0
    Xu:
    0Xu
    Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 1
    MỞ ĐẦU
    Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và với sự ưu ái của thiên nhiên
    Việt Nam nổi tiếng với những loại trái cây nhiệt đới như: dứa, chuối, cam, quýt,
    bưởi, xoài, thanh long, vải thiều, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, Hiện cả nước có
    khoảng 776.000 ha cây ăn trái, kim ngạch xuất khNu mỗi năm khoảng 300- 350 triệu
    USD. Trái cây nước ta đa dạng phong phú về chủng loại, mùa nào cũng có sản phNm.
    Trong đó có nhiều loại ngon, có lợi thế cạnh tranh như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi năm
    roi, bưởi da xanh, sầu riêng Ri- 6, Chín Hóa (ở ĐBSCL); bưởi Phúc Trạch, bưởi
    Đoan Hùng, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều (ở miền Bắc); bơ, chôm chôm, măng
    cụt, thanh long (ở khu vực Đông Nam bộ, miền Trung và Tây Nguyên) Hiện nay,
    trái cây Việt Nam không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn tiến xa hơn
    đến thị trường thế giới. Trong đó, Châu Á là một thị trường rộng lớn lại có nhiều
    thuận lợi như: tương đồng về văn hóa, đặc điểm tiêu dùng, gần gũi về vị trí địa lý
    hơn nữa các quy định về nhập khNu vào các nước Châu Á lại không quá khắt khe.
    Nhận thấy được những thuận lợi trên, công ty TNHH SX CN Việt Delta đã chọn thị
    trường Châu Á là thị trường chính trong xuất khNu mặt hàng trái cây của công ty.
    Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế vốn có, ngành nông nghiệp trồng cây ăn trái ở
    nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế. Thực trạng yếu kém hiện nay là sản xuất manh
    mún, nhỏ lẻ, chất lượng chưa ổn định; màu sắc, kích cỡ không đồng đều dẫn đến
    tính cạnh tranh thấp. Công nghệ đóng gói, bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu so với
    các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia Các loại trái cây xuất khNu của
    Việt Nam có giá thành cao hơn trái cây cùng loại của các nước trong khu vực do
    chưa có vùng chuyên canh và phải qua nhiều khâu trung gian, làm tăng giá. Chi phí
    vận chuyển đường biển và đường hàng không cao hơn so với các nước . làm giảm
    khả năng cạnh tranh . Chưa chú trọng xây dựng thương hiệu và quảng bá trái cây Việt
    Nam đến người tiêu dùng thế giới. Ngoài ra việc liên kết giữa nông dân với nông dân
    trong sản xuất và nông dân với doanh nghiệp trong tiêu thụ diễn ra lỏng lẻo dẫn đến
    những bất lợi cho xuất khNu trái cây. Những mặt hạn chế đó không chỉ ảnh hưởng
    đến xuất khNu trái cây của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung mà công ty TNHH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 2
    SX CN Việt Delta nói riêng. Vì vậy, việc đNy mạnh xuất khNu trái cây Việt Nam
    sang thị trường các nước châu Á là vấn đề cần thiết và mang tính chiến lược lâu dài
    nhằm nâng cao hiệu quả xuất khNu. Đó chính là lý do em chọn đề tài “ thực trạng và
    và giải pháp đNy mạnh xuất khNu trái cây Việt Nam sang thị trường các nước Châu
    Á. của công ty TNHH SX CN Việt Delta” là mục tiêu nghiên cứu của mình.
    Mục tiêu nghiên cứu của bài báo cáo là tìm hiểu thực trạng xuất khNu trái cây
    tại công ty TNHH SX CN Việt Delta sang thị trường các nước châu Á. Từ đó nắm
    được những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân
    của những tồn tại nhằm đưa ra những giải pháp đNy mạnh hoạt động xuất khNu trái
    cây của công ty.
    Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài báo cáo các loại trái cây mà công ty
    TNHH SX CN Việt Delta đang xuất khNu như: dứa, thanh long,
    Kết cấu bài báo cáo gồm 3 chương
    Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khNu xuất khNu trái cây
    Chương 2: Thực trạng xuất khNu trái cây Việt Nam sang thị trường các nước Châu Á
    của công ty TNHH SX CN Việt Delta giai đoạn 2008-2012
    Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm đNy mạnh xuất khNu trái cây Việt Nam sang
    thị trường các nước châu Á của công ty TNHH SX CN Việt Delta giai đoạn 2013-
    2020



    Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 3
    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRÁI CÂY
    1.1 Lý luận chung về xuất kh u
    1.1.1 Khái niệm xuất kh u
    Xuất khNu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho quốc gia khác, là hoạt động
    kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Xuất khNu là một hoạt động kinh tế rất cơ
    bản của hoạt động kinh tế đối ngoại.
    Theo điều 28, mục 1, chương 2, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy
    định: “ xuất khNu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
    hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
    quan riêng theo quy định của pháp luật”
    Hàng hóa xuất khNu: Là hàng hóa sản xuất để đưa ra thị trường, mua bán trao
    đổi trên thị trường nhưng là thị trường nước ngoài. Hàng hóa này phải di chuyển qua
    biên giới của quốc gia.Đồng thời cũng phải đáp ứng được tiêu chuNn, chất lượng mà
    thị trường nhập khNu đó đòi hỏi.Như vậy, so với hàng hóa sản xuất để bán trên thị
    trường nội địa nó phức tạp hơn nhiều.
    Giá cả xuất khNu: Là mức giá của hàng hóa xuất khNu, nó được đưa ra dựa
    trên mức giá quốc tế và có sự chấp nhận của cả hai bên xuất nhập khNu.
    Kim ngạch xuất khNu: Được hiểu là tổng giá trị hàng hóa xuất khNu của một
    doanh nghiệp, một đơn vị kinh tế hay một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định.
    Hạn ngạch xuất khNu: Là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, được hiểu
    là quy định của nhà nước về sản lượng hay giá trị của một mặt hàng hay nhóm mặt
    hàng sang một thị trường nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép xuất khNu
    (quota xuất khNu).
    Hợp đồng xuất khNu: Là hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết giữa một
    bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. Các chủ thể Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 4
    của hợp đồng là người mua, người bán phải có trụ sở đăng kí kinh doanh tại các
    nước khác nhau, thông thường là có quốc tịch khác nhau.
    1.1.2 Các phương thức xuất kh u
    1.1.2.1 Xuất kh u tại chỗ
    Đây là hình thức doanh nghiệp xuất khNu ngay chính trên đất nước của mình
    để thu ngoại tệ thông qua việc giao hàng bán cho các doanh nghiệp đang hoạt động
    trên lãnh thổ Việt Nam theo sự chỉ định của phía nước ngoài; hoặc bán hàng sang
    khu chế xuất đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
    1.1.2.2 Xuất kh u trực tiếp.
    Xuất khNu trực tiếp là xuất khNu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh
    nghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khNu ra
    nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình.
    1.1.2.3 Xuất kh u gián tiếp
    Xuất khNu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài thông
    qua các trung gian xuất khNu như người đại lý hoặc người môi giới. Đó có thể là các
    cơ quan, văn phòng đại diện, các công ty uỷ thác xuất nhập khNu . Xuất khNu gián
    tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khNu, đồng thời khiến nhà xuất
    khNu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho người trung gian. Tuy nhiên, trên thực tế
    phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ở các nước kém phát triển, vì
    các lý do:
    + Người trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh còn các nhà kinh
    doanh thường rất thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm được nhiều
    cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn.
    + Người trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực cho nên nhà xuất khNu có
    thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 5
    1.1.2.4 Xuất kh u uỷ thác
    Xuất khNu uỷ thác là các đơn vị nhận giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng
    đểxuất khNu cho một đơn vị (bên uỷ thác).
    Trong hình thức xuất khNu uỷ thác, đơn vịngoại thương đóng vai trò là người
    trung gian xuất khNu làm thay cho đơn vị sản xuất.
    1.1.2.5 Gia công quốc tế
    Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên
    (gọi là bên nhận gia công) nhập khNu nguyên liệu hoặc bán thành phNm của một bên
    khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phNm giao lại cho bên đặt
    gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt
    động xuất nhập khNu gắn liền với hoạt động sản xuất.
    1.1.3 Vai trò của xuất kh u trong quá trình phát triển kinh tế
    Xuất khNu tạo nguồn vốn cho nhập khNu phục vụ công nghiệp hóa đất nước:
    hiện nay Nước ta là một nước đang phát triển và đang thực hiện đường lối công
    nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, chúng ta cần tiếp cận nền sản xuất hiện đại
    từ những nước phát triển bằng cách nhập khNu những máy móc, thiết bị hiện đại
    phục vụ cho nền sản xuất nước nhà góp phần thúc đNy sản xuất phát triển cũng như
    góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    Xuất khNu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đấy sản xuất
    phát triển:
    - Xuất khNu giúp các quốc gia tận dụng được các nguồn lực dư thừa trong nền
    kinh tế. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và đang phát triển như
    nước ta, sản xuất về cơ bản vẫn chưa đủ tiêu dùng , nếu thụ động chờ sự du
    thừa của sản xuất, thì xuất khNu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm . Sản
    xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 6
    - Xuất khNu còn tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển
    thuận lợi. Giúp các quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ, tác động đến quá
    trình phân công lại lao động thế giới, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn
    định. Thông qua xuất khNu, hàng hóa của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với
    hàng hóa các nước khác trên thế giới. Do đó, đòi hỏi Việt Nam phải tổ chức
    lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường
    đồng thời phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất kinh
    doanh, thúc đNy sản xuất phát triển và mở rộng thị trường.
    Xuất khNu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
    đời sống nhân dân
    Xuất khNu là cơ sở mở rộng và thúc đNy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
    Việt Nam
    1.2 Tổng quan về thị trường Châu Á đối với mặt hàng trái cây
    1.2.1 Đặc điểm và nhu cầu tiêu thụ trái cây của người tiêu dùng Châu Á
    Châu Á là châu lục đứng hàng đầu về các loại cây ăn trái, có trên 400 loại cây
    ăn trái đang được trồng tại vùng này. Những loại cây ăn trái chính yếu, truyền thống
    của Châu Á như: xoài, chuối, cam, quýt, bưởi, dứa, dừa. Bên cạnh đó, những loại
    cây được xem là đặc sản của vùng Đông Nam Bộ có nhãn, vải, mãng cầu, hồng, sầu
    riêng, dưa hấu, chôm chôm, đu đủ, bơ, nho, mít, vú sữa, thanh long.
    Trái cây nhiệt đới chính là lợi thế cúa các nước đang phát triển ở Châu Á.
    Năm 2011, châu Á đã sản xuất 74% lượng xoài và 49 %,lượng khóm thế giới. Các
    nước châu Mỹ La-tinh và vùng vịnh Caribbean sản xuất trên 67% trái bơ và 39% đu
    đủ trên thế giới. Châu Á chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xuất khNu, đa số tiêu thụ trong
    nước.Chỉ 10% sản lượng trái cây nhiệt đới đi vào thị trường thế giới, chủ yếu tiêu
    thụ dạng tươi. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 7
    Châu Á tuy có ưu thế về nền nông nghiệp và cây ăn trái nhưng với lượng dân
    số trên 4 tỉ người, là châu lục đông dân nhất thế giới, chiếm đến 60% dân số thế giới
    thì nhu cầu tiêu dùng của khu vực này la rất lớn. Bên cạnh đó, phần lớn các nhà
    vườn ở châu Á ở dạng nhỏ lẽ hiện phải đối mặt với trở ngại thất thoát sau thu hoạch
    lớn và nâng cao chất lượng trái cây. Ngoài ra họ còn phải cải tiến kỹ thuật canh tác
    theo hướng an toàn thực phNm, hạ giá thành đổi nâng cao năng lực cạnh tranh với
    Trung và Nam Mỹ.
    Hiện nay một số nước Châu Á vẫn phải nhập khNu trái cây để phục vụ nhu
    cầu tiêu thụ trong nước hoặc để xuất khNu sang nước thứ ba. Hiện, trong các thị
    trường nhập khNu trái cây Việt Nam, Trung Quốc đứng đầu về kim ngạch với các
    loại trái cây đặc trưng như: thanh long, dừa khô lột vỏ, vải, nhẫn, Tiêu thụ trái cây
    trong nước châu Á tăng theo thu nhập ở nông thôn và thành thị. Nhu cầu về chuối và
    trái cây nhiệt đới tăng trưởng đều đặn do thu nhập, dân số, và nhận thức về sức khỏe
    ngày càng phát triển, tiềm năng phát triển của Trung Quốc, đặc biệt ở vùng nông
    thôn còn rất lớn. Tỷ lệ tăng trưởng tiêu thụ trái cây của Ấn Độ cao do dân số lớn,
    diện tích canh tác ít nên phải trong vào nhập khNu. Ấn Độ xuất khNu không đến 1%
    tổng sản lượng.
    1.2.2 Một số quốc gia xuất kh u trái cây hàng đầu Châu Á
     Thái Lan
    Thái Lan là quốc gia sản xuất rau quả nhiệt đới lớn nhất, chiếm 16%[1] tổng
    sản lượng trái cây nhiệt đới thế giới.
    Sản phNm trái cây xuất khNu chính của Thái Lan là sầu riêng, chôm chôm tươi
    và chế biến, nhãn tươi và khô, măng cụt, bưởi, mít , các sản phNm này vượt trội
    hơn trái cây Việt Nam cả về chất lượng, mẫu mã, bao bì và đặc biệt hơn là về giá cả
    cạnh tranh hơn sản phNm trái cây của Việt Nam. Mặt khác, chính phủ Thái Lan cũng
    có nhiều chính sách hỗ trợ cho ngành nông nghiệp nên trong tương lai sản lượng trái
    cây Thái Lan còn tăng nhiều hơn. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 8
    Thị trường xuất khNu chính của Thái Lan là Trung Quốc, kế đến là các nước
    ASIAN, Ấn Độ và Trung Đông. Hệ thống phân phối chính của trái cây Thái Lan vào
    Trung Quốc là Quảng Châu, Thanh Đảo, Côn Minh và Thượng Hải, trong khi đó hệ
    thống phân phối chính của Việt Nam vào Trung Quốc là Quảng Đông, Quảng Tây và
    Côn Minh.
     Trung Quốc
    Hầu hết các vùng trồng trọt của Trung Quốc đều nằm dọc theo hai con sông
    chínhlà Dương Tử và Hoàng Hà.
    Trung Quốc là một trong những quốc gia xuất khNu rau củ, trái cây đứng đầu
    thế giới, nhưng cũng là một trong những quốc gia nhập khNu rau củ, trái cây nhiều
    nhất thế giới. Trái cây xuất khNu của Trung Quốc chủ yếu là các loại trái cây ôn đới
    như: táo, lê, bơm, cam, và chủ yếu nhập khNu các loại trái cây nhiệt đới: nhãn, sầu
    riêng, chôm chôm, măng cụt, xoài, từ Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ.
    Đất nước Trung Hoa rộng lớn, có những vùng mà việc vận chuyển hàng đến
    cón xa hoặc khó khăn hơn xuất khNu qua nước khác chẳng hạn vùng Quảng Tây
    Trung Quốc có vị trí cách xa vùng sản xuất nông nghiệp, do đó sẽ khó khăn để vận
    chuyển đến đó, tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khNu vào vùng này.
     Ấn Độ
    Ấn Độ là nước có hơn 1.000 loại xoài với màu sắc, hình dạng và kích cỡ khác
    nhau. Hiện thị trường thế giới đã biết đến tên tuổi của loại xoài đắt tiền Alphonso,
    được người Ấn Độ gọi là “ vua của các loại xoài”
    Ấn Độ hiện là một nước đang phát triển với nền nông nghiệp chiếm 60%,
    công nghiệp 17% và dịch vụ 23% [2]. Nông nghiệp Ấn Độ sản xuất ra gạo, lúa mì,
    xoài, hạt dầu, sợi đay, chè, mía, khoai tây, gia súc, trâu, cừu, dê, gia cầm và cá.
     Phi- líp- pin Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 9
    Phi-líp-pin là quốc gia nông nghiệp, chiếm 12%[3] sản lượng trái cây nhiệt
    đới của thế giới, cây trồng chính của nước này là lúa, ngô, dừa, mía, chuối, thơm, cà
    phê, thuốc lá, Tuy nhiên, Phi-líp-pin không có nhiều loại trái cây xuất khNu cùng
    loại với trái cây xuất khNu của Việt Nam. Mặt khác, nông nghiệp của Phi-líp-pin
    cũng chưa phát triển mạnh. Do đó, so với Thái Lan thì Phi-líp-pin không phải đối thủ
    cạnh tranh mạnh của nước ta.
    1.3 Tổng quan về thị trường trái cây Việt Nam
    1.3.1 Giới thiệu chung
    Nghề trồng cây ăn trái đã có ở Việt Nam cách đây 2.000 năm. Mặc dù có điều
    kiện khí hậu, đất đai rất thuận lợi cho cây ăn trái phát triển nhưng do điều kiện xã
    hội, kinh tế, nghề trồng cây ăn trái ở Việt Nam trước đây rơi vào tình trạng kém phát
    triển và sản lượng hàng hóa ở mức thấp. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Đảng và
    Nhà nước có những chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, trong
    đó chú ý phát triển nghề trồng cây ăn trái.
    Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có 2 mùa nắng mưa rõ rệt, là
    nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng các cây nông sản trong đó có cây
    ăn trái. Do điều kiện khí hậu 2 mùa rõ rệt nên đã tạo nên ngành nông nghiệp Việt
    Nam 2 mùa thu hoạch: vụ mùa và vụ chiêm. Do nông sản có tính thời vụ vì vậy quá
    trình sản xuất, buôn bán nông sản Việt Nam cũng mang tính thời vụ. Từ đó tạo nên
    sự cung theo mùa có nghĩa là khi chính vụ thì hàng nông sản dồi dào, chủng loại đa
    dạng, chất lượng tốt, giá bán rẻ (cung >cầu) nhưng khi trái vụ nông sản lại trở nên
    khan hiếm, số lượng ít, chất lượng không cao, giá lại cao (cung<cầu).
    Việt Nam hiện có khoảng 776.000 ha cây ăn trái,sản lượng mỗi năm 7-8 triệu
    tấn[4], các tỉnh phía Nam chiếm 460.000 ha ( khu vực đồng bằng sông Cửu Long có
    hơn 282.000 ha)[5], trong đó có nhiều loại trái cây ngon như: cam Canh, bưởi Diễn,
    nhãn lồng, vải thiều, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, thanh
    long, vú sữa, Do đa dạng về sinh thái nên chủng loại cây ăn quả của nước ta rất đa Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 10
    dạng, có tới trên 30 loại cây ăn quả khác nhau, thuộc 3 nhóm là: cây ăn quả nhiệt đới
    (chuối, dứa, xoài ), á nhiệt đới (cam, quýt, vải, nhãn ) và ôn đới (mận, lê ). Một
    trong các nhóm cây ăn quả lớn nhất và phát triển mạnh nhất là nhãn, vải và chôm
    chôm. Diện tích của các loại cây này chiếm 26% tổng diện tích cây ăn quả. Tiếp theo
    đó là chuối, chiếm khoảng 19%[6].
    Nước ta mặc dù có lợi thế về sản xuất trái cây song xuất khNu vẫn còn hạn chế
    hơn 80% sản lượng trái cây xuất ra chủ yếu tiêu thụ nội địa là chính.Hiện trái cây
    Việt Nam tham gia xuất khNu gặp phải những rào cản về chất lượng, về an toàn thực
    phNm, bao bì đóng gói. Phải cạnh tranh về giá, chất lượng sản phNm, số lượng với
    một số nước trong khu vực, cụ thể là Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, bình quân năng
    suất cam, bưởi chỉ bằng 50-60% so với Thái Lan, Ấn Độ. Còn năng suất dứa chỉ
    bằng 56% so với Thái Lan, 66% so với Trung Quốc, 35% so với Phillippin[7]. An
    toàn thực phNm là mối quan tâm hàng đầu, tiêu chuNn global GAP là tiêu chuNn tối
    thiểu. Trái cây phải được truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, do đặc tính nhà vườn của
    nước ta là canh tác nhỏ lẻ, trồng nhiều giống cùng một chủng loại nên rất khó tiêu
    thụ. Bên cạnh đó, khâu vận chuyển, bảo quản trái cây xuất khNu Việt Nam còn gặp
    nhiều khó khăn, tỷ lệ trái cây hư sau thu hoạch chiếm từ 25 - 30%, thậm chí lên đến
    50% Trong điều kiện nông dân còn nghèo, vốn đầu tư xây dựng nhà kho, mua sắm
    trang thiết bị trữ lạnh, cây giống, phân bón, vật tư nông nghiệp là vấn đề khó khăn.
    Một thực tế lâu nay ghi nhận là thương hiệu trái cây nổi tiếng hiện nay tại
    Việt Nam rất ít, ngoài những tên tuổi như sầu riêng Chín Hóa, bưởi Năm Roi . Có
    đến 90% hàng nông sản Việt Nam, trong đó có mặt hàng trái cây xuất khNu không có
    thương hiệu bán thô tại cửa khNu. Nguyên nhân đã được nhìn nhận là do chuỗi giá trị
    trong việc tạo dựng thương hiệu thường bị đứt đoạn. Bởi vì hầu hết doanh nghiệp
    trong ngành không có chiến lược xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận
    thực tế tại Việt Nam, các trang trại, nhà vườn còn sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ, diện
    tích khoảng vài trăm đến 1.000m 2 thì rất khó để nói đến việc tạo dựng thương hiệu.
    Việc không tạo dựng được thương hiệu khiến trái cây nước ta phải chịu thua thiệt từ Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 11
    lúc chào hàng, gây khó khăn cho đối tác trong việc tìm hiểu nguồn gốc xuất xứ của
    các loại trái cây đó.
    1.3.2 Một số loại trái cây chủ yếu của Việt Nam
     Thanh long
    Ở Nam Bộ, thanh long được trồng chủ yếu ở ba tỉnh Bình Thuận, Long An và
    Tiền Giang. Thanh long ở nước ta hầu hết là thanh long ruột trắng, một số diện tích
    nhỏ phát triển thanh long ruột đỏ có nguồn từ Thái Lan, Đài Loan
    Thanh long ruột trắng là trái cây có thế mạnh của Việt Nam vì Việt Nam hiện là
    một trong nước có diện tích trồng lớn nhất ở Châu Á và chúng ta có nhiều kinh
    nghiệm về kỹ thuật trồng. Hiện nay, một số nơi cũng đang chú trọng phát triển thanh
    long ruột trắng là Thái Lan, Úc và Đài Loan. Ngoài ra thanh long ruột đỏ cũng được
    những nơi này quan tâm. Thái Lan sẽ trở thành nhà cạnh tranh đầy tiềm năng nhờ có
    bề dày trong phát triển cây ăn trái.Hầu hết sản lượng được tiêu thụ hầu hết trong
    nước, chủ yếu ở phía Nam. Thanh long được xuất khNu sang thị trường châu Á, Âu
    và Bắc Mỹ. Trong đó thị trường Châu Á chiếm tỷ lệ quan trọng nhất. Đài Loan,
    Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông là những thị trường quan trọng nhất ở châu
    Á.Cải thiện chất lượng là nhiệm vụ chính cho phát triển xuất khNu quả thanh long
    (diệt ruồi đục trái, cải thiện công nghệ thu hái. xử lý, bào quản và vận chuyển). Tiếp
    thị và mở rộng thị trường cũng cần được đNy mạnh .
     Vú sữa
    Là loại trái cây đặc sản của Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Giống vú
    sữa Lò rèn được đánh giá là có chất lượng tốt nhất. Nhiều nước nhiệt đới có trồng vú
    sữa như Philippinnes, Úc, Ấn độ tuy nhiên chỉ có Việt Nam có diện tích trồng tập
    trung lớn, có kinh nghiệm sản xuất và khai thác tốt hơn. Các nước khác ít quan tâm
    đến loại cây này.Diện tích trồng vú sữa ở Việt Nam ước tính hơn 1.000 ha trồng tập
    trung chủ yếu ở Tiền Giang. Nhân giống bằng hạt là hình thức chủ yếu trước đây làm Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 12
    cho vú sữa rất đa dạng về giống Trong vài năm gần đây, vú sữa được xuất chào
    hàng ở Trung Quốc, Campuchia (trái tươi), và thị trường Nhật và Bắc Mỹ (đông
    lạnh). Hạn chế của trái vú sữa là vỏ mỏng khó bảo quản và vận chuyển xa, hạt to và
    nhiều có thể bị nuốt khi ăn. Tuy nhiên, vú sữa có hương vị độc đáo. Trái vú sữa có
    đời sống sau thu hoạch ngắn. Để phát triển xuất khNu cần mở rộng thị trường và cải
    thiện chất lượng trái qua công nghệ tiền và sau thu hoạch, đặc biệt khâu thu hái,
    đóng gói, vận chuyển, bảo quản .
     Bưởi
    Việt Nam có nhiều giống bưởi ngon như bưởi Năm Roi, bưởi Da xanh ở
    Đồng bằng sông cửu long và bưởi Đường Lá Cam ở Đông Nam Bộ. Bưởi đường lá
    cam ngọt và ráo hơn bưởi năm roi và da xanh tuy nhiên có hạn chế là nhiều hạt. Bưởi
    được trồng nhiều ở các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Bình Dương, Đồng
    Nai .So với Việt Nam thì bưởi Thái Lan khó cạnh tranh hơn do họ phải đối phó với
    dịch bệnh Greening đang hoành hành trên cây có múi ở nước này.
    Bưởi có ưu thế so với một số loại trái cây khác là thu hoạch rải vụ, dễ tồn trữ, bảo
    quản, đời sống sau thu hoạch dài, vỏ dày, dễ xử lý ruồi đục trái .nên thuận lợi cho
    các nước mà công nghệ trái cây chưa phát triển.
    Yếu tố giới hạn chính hiện nay là chất lượng trái chưa đồng đều do các kỹ thuật tiền
    thu hoạch (bón phân, chăm sóc, thu hái, phòng trừ sâu bệnh .) để nâng cao độ đồng
    đều. Việc thu mua số lượng lớn cũng gặp khó khăn. Chính sách phát triển, quảng bá
    và mở rộng thị trường xuất khNu là cần thiết để gia tăng thói quen tiêu dùng trên thị
    trường thế giới.Bưởi là loại trái cây đặc sản của phương Đông, cần được chú trọng
    phát triển.
     Măng cụt
    Trước đây, Việt Nam được đánh giá là nước có diện tích trồng măng cụt tập
    trung và nhiều nhất trên thế giới. Diện tích hiện nay vẫn tăng nhanh hàng năm cả ở Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 13
    Tây Nam bộ trên đất phù sa ngọt ven sông và Đông Nam bộ trên đất đỏ.Măng cụt có
    vỏ dày nên dễ bảo quản, vận chuyển, tồn trữ và có đời sống sau thu hoạch tương đối
    dài hơn một số loại trái cây khác.
    Thái lan có lẽ là nhà cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường măng cụt thế giới và cả ở
    Việt Nam. Một số nhà đầu tư ở Úc cũng đang chú ý phát triển măng cụt nhờ có mùa
    thu hoạch không trùng với các nước Đông Nam Á. Mặc dù diện tích trồng măng cụt
    đang được mở rộng nhanh chóng ở Việt Nam và Thái Lan cũng như một số nước
    khác ở Đông Nam Á và Úc, tuy nhiên mức cầu vẫn còn rất lớn so với mức cung. Lý
    do chủ yếu là măng cụt có thời gian cho quả chậm và sản lượng không cao làm nản
    lòng nhiều nhà đầu tư. Đây là điểm yếu tuy nhiên cũng là điểm mạnh tạo cơ hội cho
    nước ta tiếp tục phát triển cây này thông qua hệ thống xem cạnh. Ngoài mở rộng sản
    xuất, cần cải thiện quy trình canh tác để hạn chế hiện tượng sượng và tiết nhựa trên
    trái, nâng cao độ đồng đều trái và cải thiện công nghệ sau thu hoạch để tăng vẽ hấp
    dẫn của trái.
     Nhãn
    Hiện tại, khu vực sản xuất chính là vùng cao phía Bắc gồm Chang Mai
    (31,4%) và Lamphun (28,8%) và Chiang Rai (8,8%). Giống nhãn chủ lực là giống
    Daw. Về chất lượng trái, nhãn Daw hơn hẳn giống nhãn phổ biến nhất ở Nam Bộ
    hiện nay là nhãn Tiêu da bò và có một số điểm vượt trội hơn giống nhãn Xuồng cơm
    vàng như độ ráo của thịt trái, năng suất và giá thành.
    Diện tích trồng nhãn ở Việt Nam tăng đáng kể trong 10 năm gần đây. Giá nhãn
    những năm gần đây biến động lớn và có xu hướng giảm do sự cạnh tranh ráo riết của
    nhãn Thái. Dự đoán nhãn tiêu da bò sẽ tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt về giá cả và
    chất lượng. Ưu thế của nhãn tiêu da bò là có thề rải vụ thu hoạch trong năm. Tuy
    nhiên việc cải tiến kỹ thuật xử lý ra hoa và trồng nhiều giống ở Thái Lan cũng giúp
    vụ thu hoạch ra nhiều tháng trong năm làm mất ưu thế ở nhãn Tiêu da bò. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 14
    Trong các giống nhãn ở Nam bộ, nhãn Xuồng da vàng ( XCV) có chất lượng cao
    nhất có thể cạnh tranh về chất lượng với các giống nhãn trên thị trường thế giới.
    Nhãn XCV cũng đã du nhập và trồng trên nhiều vùng ở Thái Lan. Nhãn XCV có
    chất lượng ngon,thơm, cơm dày và hơi ráo, vị ngọt ngon nên năng suất lại thấp nên
    giá thành cao. Giá nhãn XCV trong nước hiện nay khá cao nên chưa khuyến khích
    xuất khNu.Nhãn XCV được xuất tươi sẽ được giá và khai thác được đặc điểm chất
    lượng cao. Tuy nhiên mùa thu hoạch XCV muộn hơn mùa nhãn ở Thái lan (tháng 7-
    8) nên sẽ gặp phải sự cạnh tranh cả thị trường trong nước và xuất khNu. Việc tiếp tục
    cải thiện giống để tăng năng suất và phát triển các công nghệ xử lý sau thu hoạch là
    cần thiết.
     Sầu riêng
    Sầu riêng là một loại quả có hương vị rất đặc biệt của miền nhiệt đới. Loại
    cây này được trồng chủ yếu ở các nước Đông Nam Á. Úc cũng đang chú trọng cây
    sầu riêng cho thị trường người Úc gốc Á tại Úc và New Zealand và hy vọng bán cho
    thị trường Đông Nam Á, Hong Kong, do mùa thu hoạch không trùng với khu vực
    sản xuất chính Đông Nam Á.Thái Lan có nhiều giống sầu riêng ngon như Mongthon,
    Chanee, Kradum, Kanyao. Mongthon là giống được trồng chủ yếu ở Thái Lan. Trên
    bình diện quốc tế, Thái Lan được xem là vương quốc của sầu riêng hàng đầu và là
    đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ cho các nước muốn tham gia thị trường này. Sầu riêng
    Mongthon có cơm dày, tỷ lệ ăn được khá, mùi không quá nặng, thịt quả chịu được
    tồn trữ đông lạnh thời gian dài. Nhờ đầu tư phát triển trong khâu thu hoạch vận
    chuyển nên chất lượng quả trên thị trường được cải thiện. Khác với Việt Nam, sầu
    riêng ở Thái được thu hoạch trước khi rụng, nhờ đó chủ động được số lượng và kéo
    dài đời sống sau thu hoạch.
    Ở nước ta, 02 giống sầu riêng địa phương đã được chọn lọc và phóng thích ra sản
    xuất là Sữa hạt lép Chín Hóa và Ri 6. Sữa hạt lép Chín Hóa có ưu thế trong thị
    trường nội địa nhờ vị béo, dạng kem và mùi đậm đà, mặc dù đối với người Phương
    Tây, đây là sự hạn chế thưởng thức của họ. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 15
     Xoài
    Xoài là trái cây được sản xuất và tiêu thụ lớn trên thế giới. Việt Nam có một
    số giống xoài địa phương ngon có triền vọng xuất khNu như xoài cát Hoà Lộc, Cát
    Chu . Hai giống này được đánh giá là ngon hơn xoài Nam Dork Mai nổi tiếng của
    Thái Lan. Nhược điểm là vỏ mỏng, khó bảo quản vận chuyển và đời sống sau thu
    hoạch ngắn. Các giống xoài được trồng và xuất khNu phổ biến trên thế giới có vỏ khá
    dày, không quá ngọt và thịt khá rắn. Những đặc điểm này mang tính công nghiệp vì
    thuận lợi cho thu hái, bảo quản tồn trữ. Người Châu Á ít thích những đặc điểm như
    vậy.
    1.3.3 Vai trò, vị trí của ngành sản xuất trái cây
    - Trái cây là nguồn thực phNm cần thiết đối với con người
    Các loại trái cây là nguồn dinh dưỡng quý của con người. Trong trái cây có nhiều
    axit hữu cơ, protein các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể con người.
    Ngoài ra, còn có các loại trái cây và các bộ phận khác của cây như rễ, lá, hoa, vỏ,
    hạt, có khả năng chữa một số bệnh.
    - Việc trồng cây ăn trái có vai trò góp phần thúc đNy phát triển kinh tế, gia tăng kim
    ngạch cho đất nước
    - Giải quyết việc làm cho người lao động
    - Tận dụng được nguồn lực đất đai sẵn có và các điều kiện thiên nhiên thuận lợi
    - Thúc đNy các ngành công nghiệp bổ trợ phát triển
    Cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để ép dầu, chế biến rượu, xi rô, đồ hộp, trái cây
    sấy khô, thúc đNy các ngành công nghiệp chế biến, bao bì, phân bón phát triển
    - Góp phần vào bảo vệ môi trường Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai

    SVTT: Bùi Thị Thu Hường Trang 16
    Việc trồng cây ăn trái có vai trò lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái với các
    chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ chống xói mòn,
    làm nguồn mật để nuôi ong, ngoài ra còn làm đẹp cảnh quan.
    1.3.4 Thuận lợi, khó khăn của ngành sản xuất trái cây
    1.3.4.1 Thuận lợi
    Điều kiện thiên nhiên ưu đãi, khí hậu, thổ nhưỡng - đất đai phù hợp, có nhiều
    giống trái cây nhiệt đới đặc sản nổi tiếng, nông dân có kinh nghiệm canh tác trái cây
    đặc sản truyền thống, điều kiện giao thương thuận lợi với những cảng biển sang các
    châu lục.
    Việt Nam là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời nên diện tích
    đất nông nghiệp rộng lớn, người dân có nhiều kinh nghiệm truyền thống trong trồng
    và chăm sóc các loại cây nông nghiệp nói chung và cây căn trái nói riêng.
    Nước ta có đội ngũ lao động nông thôn dồi dào, cần cù, sáng tạo, chịu khó
    thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
    Trái cây Việt Nam phần lớn là trái cây nhiệt đới, ngon, đa dạng và thu hoạch
    quanh năm. Nhiều loại trái cây Việt Nam có thể trồng trái vụ cho trái, thu hoạch liên
    tục rất thuận lợi cho việc xuất khNu quanh năm. Trái cây Việt Nam được trồng ở
    nhiều vùng khí hậu khác nhau khắp cả nước tạo sự đa dạng sản phNm.
    Có Viện Cây ăn quả hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất theo các qui trình tiên tiến
    VietGAP/GlobalGAP, BRC (nhà đóng gói đạt tiêu chuNn ATVSTP của châu Âu).
    Có mô hình sản xuất tiên tiến khắp nơi, ví dụ ở Kế Sách có mô hình Sầu riêng
    Chín Hóa, Bưởi Năm roi, Măng cụt; ở Cái Bè, Tiền Giang có mô hình trong Ổi xen
    Cam Sành, ở Vĩnh Long có mô hình vườn ươm Tư Thiện, ở tỉnh Bình Thuận có mô
    hình cả Tỉnh làm một cây Thanh long cho hiệu quả cao.
    Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD:Th.s Nông Thị Như Mai
     
Đang tải...