Tài liệu Thực trạng công tác an toàn trong tiêm chủng mở rộng tại hai huyện Ba Bể và Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc K

Thảo luận trong 'Y Khoa - Y Dược' bắt đầu bởi Thúy Viết Bài, 5/12/13.

  1. Thúy Viết Bài

    Thành viên vàng

    Bài viết:
    198,891
    Được thích:
    167
    Điểm thành tích:
    0
    Xu:
    0Xu
    ĐỀ TÀI; Thực trạng công tác an toàn trong tiêm chủng mở rộng tại hai huyện Ba Bể và Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc Kạn, năm 2011.

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Tiêm chủng mở rộng là một trong những mục tiêu của chương trình y tế Quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm. Mục đích của chương trình tiêm chủng mở rộng là tạo miễn dịch chủ động cho trẻ em nhằm giảm tỷ lệ mắc và chết của một số bệnh truyền nhiễm phổ biến ở lứa tuổi trẻ như Bại liệt, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván sơ sinh, Sởi, Viêm gan vi rút B, Viêm não nhật bản B Trong giai đoạn vừa qua tiêm chủng mở rộng đã phát huy được hiệu quả to lớn góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe trẻ em,phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
    Chương trình tiêm chủng mở rộng đã thực hiện thanh toán được bệnh bại liệt năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005, các bệnh như sởi, ho gà, bạch hầu đã giảm rõ rệt và ngày càng được khống chế vững chắc. Chương trình tiêm chủng mở rộng cũng đang nỗ lực nâng cao tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản, tiến tới loại trừ bệnh sởi vào năm 2011. Việc phát triển mạnh hoạt động tiêm chủng mở rộng trong những năm qua đã giảm gánh nặng cho công tác điều trị ở tất cả các tuyến. Với mức độ bao phủ của các loại vắc xin trong tiêm chủng đạt trên 90% ngày càng tạo độ miễn dịch cao và bền vững trong cộng đồng. Hiệu quả mà Chương trình tiêm chủng mở rộng mang lại không chỉ bảo vệ sức khỏe cho trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và cộng đồng mà còn giảm rất lớn chi phí chăm sóc sức khỏe của người dân, chưa kể đến việc phải nghỉ học, nghỉ làm và thêm nhiều người chăm sóc, thậm chí thiệt hại do tử vong không thể tính được bằng tiền.
    Hiệu quả cuối cùng của tiêm chủng là giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của các bệnh truyền nhiễm có vắc xin tiêm chủng ở trẻ em, mắc bệnh uốn ván và tử vong cho phụ nữ có thai và phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Để đạt được hiệu quả này, quá trình tiêm chủng phải được bảo đảm an toàn từ vac xin, hệ thống dây chuyền lạnh, quá trình tiêm và giám sát phản ứng sau tiêm Vì vây đây là vấn đề cốt lõi nhằm đạt hiệu quả của tiêm chủng, Bộ y tế đã quy định rất rõ về vấn đề an toàn trong tiêm chủng tại Quyết định Số: 23/2008/QĐ-BYT, ngày 07 tháng 7 năm 2008.
    Tại tỉnh Bắc Kạn chương trình tiêm chủng mở rộng đã được duy trì thực hiện, hàng tháng có 122 điểm tiêm chủng cố định tại 122 trạm y tế xã đã định kỳ tiêm chủng cho trẻ em trong độ tuổi, bên cạnh đó do đặc thù địa hình miền núi dân cư rải rác, đường từ thôn bản đến trạm y tế xã quá xa, đường giao thông đi lại khó khăn nên một số xã có địa hình khó khăn đó đã tổ chức các điểm tiêm ngoài trạm để đảm bảo người dân không phải đưa con đi quá xa để tiêm chủng như vậy mới góp phần đạt được tỷ lệ trẻ được tiêm cao, trong toàn tỉnh có 100 điểm tiêm ngoài trạm.
    Vấn đề thực hiện an toàn trong tiêm chủng hàng năm được trú trọng quan tâm, đầu tư, tổ chức tập huấn triển khai thực hiện, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá việc thực hiện an toàn trong tiêm chủng đến mức độ nào, những khó khăn khi triển khai thực hiện ở cơ sở ra sao. Để đánh giá việc thực hiện an toàn trong tiêm chủng tại các trạm y tế trong tỉnh, từ đó đưa ra những khuyến cáo cần thiết cho việc thực hiện an toàn trong tiêm chủng, giúp cho công tác tiêm chủng mở rộng của tỉnh đạt chất lượng, an toàn và hiệu quả.
    Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Thực trạng công tác an toàn trong tiêm chủng mở rộng tại hai huyện Ba Bể và Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc Kạn, năm 2011.
    Với hai mục mục tiêu sau:
    1. Mô tả thực trạng an toàn tiêm chủng về nhân lực tham gia công tác tiêm chủng tại các điểm tiêm chủng mở rộng của hai huyện Ba Bể và Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc Kạn năm 2011.
    2. Mô tả thực trạng an toàn tiêm chủng về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác tiêm chủng tại các điểm tiêm chủng mở rộng của hai huyện Ba Bể và Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc Kạn năm 2011.


    Chương 1
    TỔNG QUAN

    1.1 Sự cần thiết của việc tiêm chủng cho trẻ em
    Trẻ nhỏ có thể mắc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: lao, viêm não Nhật Bản B, bạch hầu, uốn ván, ho gà, sởi, viêm gan B, quai bị, Rubella .
    Trẻ chưa có đủ sức đề kháng với bệnh tật nên nếu mắc các bệnh truyền nhiễm này thì sẽ rất nặng, có thể để lại di chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến tương lai sau này hoặc tử vong.
    Các bệnh này có thể phòng được bằng cách tiêm chủng vắcxin cho trẻ.
    1.2 Một số khái niệm về tiêm chủng mở rộng:
    Tiêm chủng: Là cho trẻ tiêm hoặc uống một sinh phẩm mà người ta gọi là vắcxin, để cơ thể trẻ tạo ra kháng thể chống lại vi khuẩn gây bệnh để chủ động phòng bệnh.
    Tiêm chủng mở rộng: Là tiêm chủng các loại vắcxin miễn phí.
    Vắcxin phòng bệnh:
    Vacxin phòng bệnh là những sinh vật có nguồn gốc từ những vi sinh vật gây bệnh hoặc giống như vi sinh vật gây bệnh hay từ độc tố do vi khuẩn tạo ra, phòng được bệnh và không gây hại cho người.
    1.3 Cơ sở khoa học và lịch sử phát minh vacxin để phòng bệnh:
    Cơ thể con người sau khi mắc các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, vi rút đều có khả năng sinh ra kháng thể để bảo vệ mình, các tế bào miễn dịch đãnhớ tác nhân gây bệnh để lần sau không bị tái nhiễm bệnh đó, đó là khả năng sinh miễn dịch. Qua sự tìm tòi và tổng kết, các nhà khoa học đã phát minh ra vacxin để phòng bệnh. Như vậy là sử dụng kháng nguyên đưa vào cơ thể để tạo miễn dịch chủ động cho cơ thể chống lại bệnh.
    Lui Pasteur đã tìm ra vacxin phòng bệnh Dại cách đây hơn 100 năm [2]. Năm 1896, Edward Jener, một bác sỹ thú y người Anh đã phát hiện thấy những người mắc bệnh đậu bò thì sau này không mắc bệnh đậu mùa người nữa. Ông có sáng kiến dùng đậu bò chủng cho người để phòng bệnh đậu mùa. Năm 1921 Calmête – Guerin đã sản xuất thành công vacxin BCG để phòng bệnh Lao. Năm 1923 Ramon (Pháp) đã sản xuất ra vacxin giảm độc tố Bạch hầu – uốn ván. Năm 1925 vacxin Ho gà được điều chế thành công. Năm 1930 vacxin chống Sốt vàng được sản xuất thành công. Năm 1950 vacxin Bại liệt uống được nghiên cứu đưa vào sử dụng. Như vậy cùng với sự tiến bộ của sinh học, di truyền học, miễn dịch học rất nhiều bệnh đã và tiến tới có thể phòng được bằng vacxin. Một số vacxin mới đã ứng dụng công nghệ di truyền học, bản chất không phải như các vacxin cổ điển nữa, ví dụ: vacxin Viêm gan B tái tổ hợp từ tế bào nấm men có kháng nguyên HBsAg, có tác dụng phòng bệnh Viêm gan B và an toàn hơn vacxin chế từ huyết tương người.
    Các loại vacxin có liều sử dụng khác nhau [18], ví dụ vacxin Sởi tiêm 1 lần đã có tác dụng phòng bệnh, OPV, DPT . phải tiêm, uống 3 lần trở lên; đó là do đặc điểm của từng loại vacxin có khả năng sinh miễn dịch khác nhau. Để tiêm chủng đạt hiệu quả miễn dịch cao cần phải đảm bảo các yếu tố: Tiêm chủng đúng lịch, đúng kỹ thuật, đạt tỷ lệ cao; bảo quản vacxin đúng kỹ thuật.
    1.4. Một số quy định an toàn trong tiêm chủng:
    * Điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất và trang thiết bị đối với điểm tiêm chủng chung:
    1. Điều kiện về cơ sở vật chất tối thiểu:
    a) Có đủ diện tích để tư vấn, khám để loại trừ những trường hợp có chống chỉ định, tiêm chủng và theo dõi sau tiêm chủng;
    b) Có tài liệu chuyên môn phục vụ công tác tiêm chủng (các hướng dẫn bảo quản, sử dụng, theo dõi và xử lý tai biến), các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tiêm chủng;( Quyết định số 23/2008/QQĐ-BYT)
    c) Có sổ theo dõi việc nhập, xuất và hạn dùng của từng lô vắc xin, sinh phẩm y tế; sổ theo dõi tiêm chủng cho từng đối tượng, có biểu mẫu báo cáo tiêm chủng theo quy định; có phiếu, sổ tiêm chủng cho người được tiêm chủng;
    d) Bảo đảm các điều kiện xử lý chất thải và vệ sinh môi trường theo qui định của pháp luật.
    2. Điều kiện về trang thiết bị tối thiểu:
    a) Có trang thiết bị dụng cụ vận chuyển, bảo quản và lưu trữ vacxin, sinh phẩm y tế trong dây chuyền lạnh theo quy định của nhà sản xuất luôn đảm bảo (từ 2[SUP]0[/SUP]C - 8[SUP]0[/SUP]C); dụng cụ chứa vỏ lọ vacxin, sinh phẩm y tế đã tiêm, bơm kim tiêm đã sử dụng;
    b) Có đủ dụng cụ tiêm chủng và đảm bảo vô trùng;
    c) Có hộp thuốc chống sốc. Có phác đồ chống sốc treo tại nơi thực hiện tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm y tế: Theo thông tư hướng dẫn và cấp cứu sốc phản vệ của Bộ Y tế số 08/1999-TT-BYT, ngày 04/5/1999.
    3. Điều kiện về nhân sự:
    Nhân viên y tế thực hiện công tác tiêm chủng phải được tập huấn các quy định về tiêm chủng an toàn và được cấp giấy chứng nhận tham dự tập huấn theo quy định tại khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 24 của Quy định này.
    * Điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất và trang thiết bị đối với điểm tiêm chủng ngoài trạm y tế trong chiến dịch tiêm chủng
    1. Nguyên tắc áp dụng:
    Chỉ được triển khai trong các chiến dịch tiêm chủng mở rộng hoặc trong trường hợp cần thiết.
    2. Điều kiện về cơ sở vật chất tối thiểu:
    a) Có bàn tư vấn, khám để loại trừ những trường hợp có chống chỉ định, và được chỉ định tiêm chủng, chỗ theo dõi phản ứng sau tiêm chủng;
    b) Có sổ theo dõi tiêm chủng, phiếu, sổ tiêm chủng cho người được tiêm chủng và các dụng cụ cần thiết khác cho buổi tiêm chủng( ống nghe, huyết áp, nhiệt kế )
    3. Điều kiện về trang thiết bị tối thiểu:
    a) Có trang thiết bị để vận chuyển,bảo quản và lưu trữ vắc xin, sinh phẩm y tế trong dây chuyền lạnh theo quy định của nhà sản xuất( Hòm lạnh, phíc lạnh, bình tích lạnh, đá ) dụng cụ chứa vỏ lọ vắc xin, sinh phẩm y tế đã tiêm, bơm kim tiêm đã sử dụng;
    b) Có đủ dụng cụ tiêm chủng và đảm bảo vô trùng;
    c) Có hộp thuốc chống sốc, phác đồ chống sốc kèm theo.
    4. Điều kiện về nhân sự:
    Nhân viên y tế thực hiện công tác tiêm chủng phải được tập huấn các quy định về tiêm chủng an toàn và được cấp giấy chứng nhận tham dự tập huấn.
    * Quy trình tiếp nhận, vận chuyển bảo quản và cấp phát vắc xin, sinh phẩm y tế:
    Khi nhận hoặc cấp vắc xin, sinh phẩm y tế phải kiểm tra, ghi chép và lưu lại những thông tin sau vào phiếu hoặc sổ nhận:
    a) Ngày nhận hoặc ngày cấp;
    b) Loại vắc xin, sinh phẩm y tế;
    c) Tên vắc xin, sinh phẩm y tế;
    d) Hàm lượng, quy cách đóng gói;
    đ) Số liều nhận; số lượng phân phối ( Số liều,số lọ, số hộp)
    e) Cơ sở sản xuất, nước sản xuất;
    g) Số lô sản xuất;
    h) Hạn sử dụng đối với từng lô;
    i) Tên đơn vị cung cấp
    k) Số giấy phép đăng ký lưu hành hoặc số giấy phép nhập khẩu;
    1) Tình trạng các chỉ thị kiểm tra nhiệt độ như: chỉ thị nhiệt độ lọ vắc xin, sinh phẩm y tế, thẻ theo dõi nhiệt độ và chỉ thị nhiệt độ đông băng (nếu có) khi vắc xin, sinh phẩm y tế tới, hoặc tình trạng bảo quản khi rời kho.
    m) Vắc xin, sinh phẩm y tế đông khô kèm theo nước hồi chỉnh của vắc xin, sinh phẩm y tế đó. Những thông tin sau cần được ghi chép đối với nước hồi chỉnh: Loại nước hồi chỉnh, số lượng, cơ sở sản xuất, nhà sản xuất, số lô, hạn sử dụng đối với từng lô; tên đơn vị cung cấp;
    n) Nếu có bất thường đơn vị tiếp nhận ghi chép rõ và trả lại đơn vị cung cấp.
    * Quy định về vận chuyển vắc xin, sinh phẩm y tế
    Trong quá trình vận chuyển các vắc xin, sinh phẩm y tế phải được bảo quản trong dây chuyền lạnh theo đúng quy định luôn trong khoảng nhiệt độ từ +2oC tới +8oC và có các dụng cụ theo dõi nhiệt độ của vắc xin, sinh phẩm y tế trong quá trình vận chuyển.
    * Quy định bảo quản vắc xin, sinh phẩm y tế
    1. Tất cả các vắc xin, sinh phẩm y tế phải được bảo quản theo đúng nhiệt độ quy định là (từ 2[SUP]0[/SUP]C - 8[SUP]0[/SUP]C) từ khi sản xuất cho đến khi sử dụng và hết hạn dùng.
    2. Vắc xin, sinh phẩm y tế phải được bảo quản riêng trong dây chuyền lạnh tại cơ sở y tế, không được bảo quản cùng với các sản phẩm khác.
    3. Trong quá trình bảo quản vắc xin, sinh phẩm y tế phải kiểm tra theo dõi thường xuyên các thông tin và điều kiện bảo quản. Tất cả vắc xin, sinh phẩm y tế, nước hồi chỉnh hết hạn sử dụng và bảo quản không đúng qui định phải huỷ bỏ và có biên bản hủy. Bảo đảm nguyên tắc vắc xin, sinh phẩm y tế có hạn dùng ngắn thì sử dụng trước.
    * Quy định về việc khắc phục sự cố
     

    Các file đính kèm:

Đang tải...