Luận Văn Giải pháp phát triển du lịch Tiên Lãng

Thảo luận trong 'Du Lịch' bắt đầu bởi Thúy Viết Bài, 5/12/13.

  1. Thúy Viết Bài

    Thành viên vàng

    Bài viết:
    198,891
    Được thích:
    167
    Điểm thành tích:
    0
    Xu:
    0Xu
    MỤC LỤC
    Lời cảm ơn.
    Danh mục từ viết tắt.
    Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài phát triển du lịch Tiên Lãng
    - Hải Phòng
    1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
    2 Các mục tiêu nghiên cứu
    3 Phạm vi nghiên cứu
    4 Bố cục khóa luận
    5 Một số lý luận về phát triển du lịch
    5.1 Khái niệm du lịch và bộ phận cấu thành du lịch
    5.1.1 Kkhái niệm về du lịch
    5.1.2 Bộ phận cấu thành du lịch
    5.2 Các loại hình du lịch
    5.2.1 Căn cứ theo mục đích chuyến đi
    5.2.2 Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với điểm đến du
    lịch
    5.2.3 Theo phạm vi lãnh thổ
    5.2.4. Các cách phân loại khác
    5.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch
    5.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển du lịch Tiên Lãng
    5.4.1 Cầu du lịch
    5.4.2 Cung du lịch
    5.4.3 Môi trường du lịch
    Chương II: Thực trạng phát triển du lịch huyện Tiên Lãng.
    2.1 Khái quát về thực trạng khai thác tiềm năng du lịch tại huyện Tiên
    Lãng
    2.1.1 Lược sử về huyện Tiên Lãng
    2.1.2 Vài nét về hoạt động du lịch tại huyện Tiên Lãng
    2.2 Thực trạng khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Tiên Lãng
    2.2.1 Thực trạng cầu về du lịch trên địa bàn huyện Tiên Lãng
    2.2.2 Thực trạng cung về du lịch trên địa bàn huyện Tiên Lãng
    Chương III: Kết luận và đề xuất
    3.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
    3.1.1 Kết quả điều tra
    3.1.2 Những kết luận thông qua nghiên cứu
    3.1.3 Tồn tại
    3.2 Các đề xuất và kiến nghị nhằm phát triển du lịch Tiên Lãng
    3.2.1 Đề xuất giải pháp phát triển du lịch Tiên Lãng
    3.2.1.1 Cần nhận thức đúng và đầy đủ hơn nữa về phát triển du lịch
    huyện Tiên Lãng
    3.2.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch của huyện Tiên Lãng
    3.2.1.3. Giải pháp tôn tạo và tu bổ di tích
    3.2.1.4. Khôi phục bảo tồn lễ hội truyền thống
    3.2.1.5 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật - hạ tầng đến các
    địa điểm du lịch.
    3.2.1.6.Giải pháp huy động vốn
    3.2.1.7. Đào tạo những người phục vụ du lịch tại chỗ cho người dân
    địa phương
    3.2.1.8 Giải pháp tuyên truyền quảng bá cho phát triển du lịch
    3.2.1.9 Vận động sự tham gia của cộng đồng dân cư vào hoạt động
    du lịch.
    3.2.1.10 Xây dựng tour,tuyến du lịch có sự kết hợp giữa du lịch tham
    quan, nghiên cứu các di tích lịch sử ,văn hóa với một số lọa hình du lịch
    khác.
    3.2.2 Một số kiến nghị
    Tài liệu tham khảo
    Phụ lục I
    Phụ lục II




    Giải pháp phát triển du lịch Tiên Lãng
    CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
    PHÁT TRIỂN DU LỊCH TIÊN LÃNG
    1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
    Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước
    phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1990 đến nay tốc độ tăng trưởng khách du
    lịch luôn đạt ở mức 2 con số, khách du lịch quốc tế tăng 11 lần từ
    250.000 lượt (năm 1990) lên xấp xỉ 3 triệu lượt năm (năm 2004), khách
    du lịch nội địa tăng 14,5 lần từ 1 triệu lượt (năm 1990) lên 14,5 triệu lượt
    (năm 2004). Thu nhập xã hội từ du lịch tăng từ 1350 tỉ đồng (1990) lên
    26.000 tỉ đồng (2004). Du lịch đã tỏ rõ vị trí của mình trong nền kinh tế
    với vai trò là một nghành kinh tế thực sự và có khả năng đóng góp quan
    trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Không chỉ là nguồn
    thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước mà du lịch còn tạo việc làm cho
    hàng chục vạn lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp. Ngoài
    ra du lịch phát triển còn thúc đẩy nhiều hoạt động kinh tế khác như: vận
    chuyển, bưu chính viễn thông, ngân hàng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ
    khách du lịch Du lịch đã thu hút sự tham gia của các thành phần kinh
    tế và các thành phần dân cư trong xã hội, tạo ra diện mạo mới của du lịch
    Việt Nam, sôi động và rộng khắp trong phạm vi cả nước. Là 1 trong 7
    huyện ngoại thành của Hải Phòng, huyện Tiên Lãng có vị trí quan trọng
    trong phát triển kinh tế xã hội thành phố. Nằm cách không xa trunh tâm
    kinh tế lớn của vùng đồng bằng sông Hồng, gần các khu công nghiệp tập
    trung và các khu du lịch nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà, Hạ Long, các
    trcuj giao thông quan trọng có ý nghĩa liên vùng. Với vị trí như vậy Tiên
    Lãng có thể liên kết, trao đổi, thu hút vốn đầu tư và phát triển kinh tế xã
    hội.
    Tiên Lãng có tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch, nhất là du
    lịch văn hóa, với hệ thống các di tích lịch sử văn hóa lâu đời chứa đủ
    những giá trị linh giá trị văn hóa cao cả và mang ý nghĩa giáo dục sâu
    sắc. Tuy nhiên hoạt động du lịch tới các di tích lịch sử văn hóa và danh
    lam thắng cảnh của Tiên Lãng chưa thực sự phát triển tương xứng với
    tiềm năng vốn có của nó, chưa khai thác được hết các giá trị trong lòng
    các di tích, danh lam thắng cảnh.
    Với mục đích đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch Tiên Lãng
    mong muốn đóng góp phần nhỏ bé trong việc phát triển du lịch quê
    hương mình em chọn đề tài Giải phát phát triển du lịch Tiên Lãng làm
    khóa luận tốt nghiệp của mình.
    2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
    Mục đích của đề tài.
    Đề tài được trình bày trong khóa luận này nhằm khẳng định vai trò
    của nguồn tài nguyên đối với hoạt động du lịch của huyện Tiên Lãng, nêu
    lên thực trạng của hoạt động du lịch huyện trong những năm gần đây với
    những thành công và hạn chế cụ thể. Đồng thời đưa ra một số giải pháp
    nhằm phát huy cao nhất những thế mạnh, hạn chế tối đa những điểm yếu
    đẻ du lịch Tiên Lãng trở thành một trung tâm du lịch văn hóa và sinh thái
    của Hải Phòng.
    Nhiệm vụ của đề tài.
    Để thực hiện mục đích trên đề tài tập trung giải quyết những nhiệm
    vụ cơ bản sau;
    - Tìm hiểu những lí luận chung về du lịch: các khái niệm về du lịch
    , tài nguyên du lịch, phân tích vai trò của du lịch trong đời sống kinh tế
    xã hội của con người và xu thế phát triển của du lịch hiện nay.
    - Đánh giá các tài nguyên du lịch tại huyện Tiên Lãng về loại hình,
    số lượng và giá trị của chúng.
    - Thống kê và phân tích thực trạng sử dụng các tài nguyên trong
    hoạt động du lịch ở Tiên Lãng.
    - Ngiên cứu và tham khảo ý kiến, tìm ra các biện pháp thích hợp
    nhất để giải quyết các vấn đề còn tồn tại của hoạt động du lịch Tiên
    Lãng.
    3 Phạm vi nghiên cứu
    Đề tài tập trung nghiên cứu tất cả những nguồn tài nguyên du lịch
    trên địa bàn huyện Tiên Lãng.Trong đó chú trọng nhất đến việc phân tích
    và đánh giá các tài nguyên du lịch nhân văn,du lịch sinh thái của huyện.
    Các giải pháp khắc phục vấn đề được đưa ra dựa trên thực trạng về tình
    hình kinh tế xã hội Tiên Lãng hiện tại.
    4. Bố cục của khóa luận.
    Bô cục của khóa luận ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ
    lục và tài liệu tham khảo, nội dung gồm 3 chương:
    Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về du lịch và xu hướng
    phát triển du lịch hiện nay.
    Chương 2: Tiềm năng du lịch và thực trạng phát triển du lịch
    huyện Tiên Lãng.
    Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa tính hiệu
    quả trong hoạt động du lịch huyện Tiên Lãng
    5. Một số lý luận về phát triển du lịch
    5.1 Khái niệm về du lịch và bộ phận cấu thành du lịch.
    5.1.1 Các khái niệm về du lịch
    a. Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người.
    - Du lịch là một hiện tượng : Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và
    các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của con người ngoài địa
    phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan
    tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào.
    - Du lịch là một hoạt động : Du lịch có thể được hiểu là các hoạt
    động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
    xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
    dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
    - Du lịch dưới góc độ là khách du lịch:
    Nhà kinh tế học người Anh, Ogilvie khái niệm về khách du lịch là
    tất cả những người thỏa mãn hai điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường
    xuyên trong một khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại
    nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó.
    Nhà kinh tế học Cohen lại quan niệm khách du lịch là một người đi
    tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những
    điều mới lạ và thay đổi thu nhận được trong một chuyến đi tương đối xa
    và không thường xuyên.
    Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO):
    Khách du lịch quốc tế: là một người lưu trú í nhất một đêm nhưng
    không quá một năm tại quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều
    mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến.
    Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia,
    không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú
    thường xuyên trong quốc gia đó, trog thoiwif gian ít nhất là 24 giờ và
    không quá một năm với cac mục đích có thể là: giải trí, đi công việc, hội
    họp, thăm thân nhân ngoài hoạt động làm việc để lĩnh lương ở nơi đến.
    Theo luật du lịch Việt Nam 2005: Khach du lịch quốc tế là người
    nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch,
    là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước
    ngoài du lịch. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước
    ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt
    Nam.
    b. Dưới góc độ là một ngành kinh tế
    du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp của các lĩnh vực của các lữ
    hành, khách sạn, vận chuyển và các yếu tố cấu thành khác kể cả xúc tiến
    quảng bá nhằm phục vụ hu cầu vafmong muốn dặc biệt của khách du
    lịch.
    Khái niệm của hội liên hợp quốc (1971): Ngành du lịch là ngành
    đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp thương mại cung ứng
    toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch quốc tế
    và nội địa
    Như vậy khi tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung các
    yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một
    ngành kinh tế cung ứng các hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị
    các tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt
    của du khách.
    c. Tiếp cận dưới góc độ tổng hợp
    Theo các tác giả McIntosh, Goeldner và Ritchie tiếp cận du lịch
    một cách toàn diện hơn, theo các ông khi tiếp cận du lịch phải cân nhắc
    tất cả các chủ thể (thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể
    khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ. Cã chủ thể
    đó bao gồm:
    khách du lịch là những người tìm kiếm kinh nghiệm và thỏa mãn
    vật chất hay tinh thần khác nhau do đó xác định nơi đến du lịch lựa chọn
    và các hoạt động tham gia thưởng thức.
    Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch: nhà kinh
    doanh coi du lịch là cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp
    hàng hóa dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường khách du lịch, họ
    tạo ra nguồn cung các sản phẩm dịch vụ du lịch để thỏa mãn nhu cầu của
    khách du lịch trong chuyến đi từ đó tạo ra doanh thu lợi nhuận trong các
    doanh nghiệp.
    Chính quyền sở tại: người lãnh đạo chính quyền địa phương luôn
    tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển và họ nhìn nhận du lịch như
    một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua: tạo ra thu nhập
    góp phần phân phối lại lợi nhuận tạo ra nguồn thu ngoại tệ, tạo ra nguồn
    thu thuế cho ngân sách địa phương, giúp cho địa phương tạo cơ sở vật
    chất cho cơ sỏ hạ tầng, là nhân tố tạo công ăn việc làm cho dân ư địa
    phương, tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa dân cư địa phương với khách du
    lịch.
    Dân cư địa phương : Dân cư địa phương thường coi du lịch là một
    nhân tố tạo công ăn việc làm và giao lưu văn hóa. Một điều quan trọng
    cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả của sự giao lưu giữa số lượng lớn du
    khách quốc tế và dân cư địa phương . Hiệu quả này vừa có lợi vừa có hại.
    => Từ các cách tiếp cận trên ta có thể đưa ra dược khái niệm du
    lịch một cách tổng quát như sau: “ Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và
    các mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các
    nhà kinh doanh chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong qua
    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.
    5.1.2 Bộ phận cấu thành du lịch
    a. Vận chuyển du lịch
    Du lịch gắn liền với di chuyển và các chuyến đi, vì vậy vận chuyển
    du lịch trở thành bộ phận không thể thiếu được trong ngành du lịch.
    Tham gia vào vận chuyển du lịch có các ngành hàng không, đường bộ,
    đường sắt, đường thủy.
    Đối với phương tiện vận chuyển hàng không: Đây là loại phương
    tiện hiện đại, tiện nghi, có tốc độ nhanh phù hợp với xu thế toàn cầu hóa
    du lịch. Trong du lịch quốc tế thì vận chuyển hàng không chiếm vị trí
    quan trọng hàng đầu, đồng thời nó chiếm một tỷ trọng khá lớn trong toàn
    bộ chi tiêu cho chuyến đicủa du khách. Hiện nay phương tiện này còn có
    chi phí khá cao và khả năng cơ dộng bị hạn chế. Chính vì vậy mà việc sử
    dụng phương tiện này cho khách du lịch nội địa còn chưa phổ biến, đặc
    biệt là ở các nướcđang phát triển
    Đối với phương tiện vận chuyển đường bộ: hiện nay hệ thống vận
    chuyển đương bộ vẫn giữ vị trí quan trọng trong vận chuyển du lịch, do
    chi phí thấp có thể phù hợp với mọi đối tượng khả năng cơ động cao, có
    thể đi đến hầu hết các điêm du lịch. Mặc dù vậy phương tiện vận chuyển
    này còn chậm và thiếu tiện nghi, chỉ phù hợp cho phát triển du lịch trong
    nước .
    Đối với phương tiện vận chuyển đường sắt: hiện nay hệ thống vận
    chuyển ở nhiều quốc gia đang có vị trí quan trọng đối với du lịch do có
    nhiều lợi thế về chi phí, khả năng an toàn cao, tiện lợi và có khả năng
    thỏa mãn nhu cầu ngắm cảnh. Trong tương lai phương tiện này sẽ là
    phương tiện có khả năng cao với sự chuyển biến về tốc độ và cải thiện về
    tiện nghi.
    Đối với phương tiện vận chuyển đương thủy: Mặc dù xuất hiện khá
    sớm nhưng việc kết hợp phương tiện này cho viaacj phát triển du lịch còn
    khá mới mẻ. hiện nay du lịch vận tải biển đang có tiềm năng gia tăng.
    Tham gia ào hình thức vận chuyển này có tàu, thuyền du lịch, các
    phương tiện đường thủy mang tính hiện đại hoặc tính truyền thống khác.
    b. Lưu trú
    Là một lĩnh vực kinh doanh rất quan trọng đáp ứng nhu cầu nghỉ
    ngơi của khách du lịch. Lưu trú ảnh hưởng quan trọng đến cơ sở vật chất
    kỹ thuật và chaayts lượng phục vụ của ngành du lịch. Chính vì vậy việc
    phát triển hệ thống phục vụ lưu trú là một vấn đề quan trọng nhằm phát
    triển ngành du lịch .
    Tham gia vào phục vụ lưu trú có các loại hình như khách sạn, nhà
    hàng nhà trọ, motel, bãi cắm trại trong đó mỗi loại lại thỏa mãn nhu
    cầu có tính chất đặc trưng. Ví dụ: Motel là những khách sạn xây dựng
    ven đườngthương là trên trục đường cách xa khu dân cư. Các khách sạn
    nhằm đáp ứng nhu cầu khách du lịch đi bằng ô tô nghỉ lại trên đường với
    các dịch vụ có thể chỉ là ăn uống, lưu trú và có chỗ đỗ xe
    c. Ăn uống
    Ăn uống là một nhu cầu thiết yếu đối với khách du lịch vì vậy phục vụ
    ăn uống trở thành một hoạt động kinh doanh đáng kể trong du lịch.
    Có nhiều loại hình kinh doanh phục vụ ăn uống: nhà hàng, quán bar,
    quán café nó phản ánh nét văn hóa của từng địa phương.
    Đồng thời, các loại hình kinh doanh ăn uống cũng phát triển rất đa
    dạng theo quy mô, chất lượng phục vụ và chuyên môn hóa, hình thành
    nên các cơ sở quy mô lớn, quy mô nhỏ, các nhà hàng bình dân, đặc sản,
    cửa hàng cung cấp thức ăn nhanh.
    d. Hoạt động giải trí
    Đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách du lịch đến với điểm
    đến. bộ phận kinh doanh giải trí bao goomfhoatj động của các công viên
    giải trí vườn bách thảo, viện bảo tàng , các di tích, hội chợ ngoài ra các
    hoạt động mua sắm đặc biệt là hàng hóa lưu niệm cũng góp phần rất quan
    trọng trong sự hấp dẫn du lịch, hoặc các hoạt động văn hóa , các công
    trình kiến trúc, các nhà thờ mặc dù không mang tính chất thương mại
    song lại có khả năng hấp dẫn, thu hút khách du lịch.
    e. Lữ hành và các hoạt động trung gian
    Lữ hành và các hoạt động trung gian đã đóng góp một số vai trò như
    sau:
    - Thực hiện các hoạt động trung giannoois liền giữa khách du lịch
    với các nhà cung uwngshangf hóa dịch vụ du lịch
    - Có khả năng cung ứng cho khách những sản phẩm đồng bộ, trọn
    gói thông qua các liên lết các dịch vụ của nhà cung ứng du lịch
    nhằm tạo ra cho khách hàng chủ động cao, tiện lợi và hiệu quả
    trong các chuyến đi du lịch.
    - Có hai loại hình tổ chức kinh doanh lữ hành chủ yếu đó là đại lý du
    lịch và công ty lữ hành.
    + Đại lý du lịch là tổ chức trung giant hay mặt cho du khách sắp
    xếp với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch và nhận tiền hoa hồng của
    các đơn vị này.
    + Công ty lữ hành thường kết hợp các dịch vụ du lịch đơn lẻ thành
    một sản phẩm lữ hành hoàn chinhrthoong qua mạng lưới đại lý du lịch để
    bán cho khách hàng. Khác với các đại lý du lịch mang tíh phân tán thì các
    công ty lữ hành có tính tập trung rất cao. Mặc dù chỉ có một số công ty
    nhưng lại chiếm phần lớn thị trường sản phẩm du lịch trọn gói và trở
    thành những bạn hàng lớn của các hang hàng không và các tập đoàn
    khách sạn.
    Như vậy tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm nhiều bộ
    phận kionh doanh khác nhau hợp thành một chuỗi sản phẩm có tính
    phong phú, đồng bộ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy muốn
    phát triển du lịch thì cần phải quan tâm , chú trọng phát triển tất cả các
    yếu tố cấu thành nên du lịch.
     

    Các file đính kèm:

Đang tải...