Luận Văn Chế định trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Thảo luận trong 'Triết Học' bắt đầu bởi Thúy Viết Bài, 5/12/13.

  1. Thúy Viết Bài

    Thành viên vàng

    Bài viết:
    198,891
    Được thích:
    167
    Điểm thành tích:
    0
    Xu:
    0Xu
    Chế định trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến VN



    CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM

    Bộ Quốc triều hình luật là sự kết tinh và đỉnh cao của những thành tựu lập pháp thế kỷ XV-XVIII, là bộ luật tiêu biểu nhất trong lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam.
    Bộ Hoàng Việt Luật lệ gồm 398 điều, chia thành 22 quyển. Cách thức phân chia các quyển, mục căn cứ vào thẩm quyền chức năng của Lục bộ. Cấu trúc này gần giống bộ Đại Thanh Luật lệ.
    So với Quốc triều hình luật triều Lê, Hoàng Việt Luật lệ mang tính khái quát cao hơn, Việc chia quyển đã bước đầu có sự phân ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật. Các chế định về trách nhiệm dân sự pháp luật thời Lê (Quốc triều Hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ) được quy định sơ sài và tản mạn. Các quy định này không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Chế tài hình sự được quy định trước hết nhằm trừng phạt kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hoặc nhân thân của người khác, ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra.
    Sở dĩ có sự phân biệt rõ giữa hình luật và dân luật trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ, trước hết nó được ban hành là nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền quân chủ, không chú trọng vào việc quy định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo Trung Hoa, giai cấp thống trị phong kiến muốn tái thiết trên lãnh thổ Việt Nam một nền pháp luật hướng theo Nho giáo. Theo tư tưởng này, trong xã hội mọi người đều hành động như hiền nhân quân tử, giữa họ không thể có những tranh chấp về quyền lợi. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho chế định trách nhiệm dân sự quy định rất tản mạn và không đầy đủ trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
    Nói đến trách nhiệm dân sự trong Quốc triều hình luật chúng ta cần xem xét hai vấn đề, đó là các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thường dân sự.
    Trước hết, về các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự. Yếu tố đầu tiên phải kể đến đó là hành vi tội phạm luật. Với bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng liên quan đến trách nhiệm dân sự kể cả vi phạm về tự do ý chí của con người. Điều 384 và điều 385 Quốc triều hình luật đã đề cập đến sự tự do ý chí. Tại điều 384 quy định “Những ruộng đất cầm mà chủ ruộng đất xin chuộc, người cầm không cho chuộc, hay là không muốn chuộc mà bắt phải chuộc mà bắt phải chuộc thì đều phải phạt 80 trượng. Nếu quá hạn mà chủ ruộng đất cố đòi chuộc, thì chủ ruộng cũng phải phạt trượng như thế mà không cho chuộc. (Kỳ hạn ruộng mùa là ngày 15 tháng 3, ruộng chiêm là ngày 15 tháng 9). Nếu trong hạn đã đem tiền đến chuộc và đã được quan xử cho chuộc, mà chủ cầm cố tình lần khân không cho chuộc, để cho quá kỳ hạn,thì phạt 80 trượng, bắt phải cho chuộc, và phải lại trả tiền lãi những ngày để lần khân. Nếu qua niên hạn mà xin chuộc thì không được (niên hạn là 30 năm). Nếu người bán trái lý còn kêu lên quan để đòi chuộc thì xử phạt 50 roi, biếm một tư”. Điều 385 quy định về việc nếu giả người để tranh giành ruộng đất thì cũng phải chịu hình phạt biếm và trượng “Tranh giành ruộng đất mà đưa người giả làm người thân thuộc trong họ ra làm chứng, thì xử phạt 50 roi, biếm một tư; cố ý không theo lệnh đã xử mà cứ tranh, thì xử phạt 60 trượng, biếm hai tư và phải phạt tiền tạ 30 quan”. Như vậy, Quốc triều hình luật đã bảo vệ lợi ích của người dân, bảo đảm sự tự do về ý chí cũng như quy định chặt chẽ trách nhiệm của những người vi phạm.
    Yếu tố thứ hai là vấn đề lỗi. Mặc dù không sử dụng đến những thuật ngữ pháp lý hiện đại như lỗi cố ý và lỗi vô ý, nhưng các nhà làm luật đã đề cập đến vấn đề này trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Nghiên cứu các điều luật quy định về trách nhiệm dân sự trong hai bộ luật, chúng ta nhận thấy lỗi có thể của chính bản thân của người gây thiệt hại hoặc do người thứ ba.

    *Lỗi do chính bản thân của người gây thiệt hại
    Khi một người có hành vi xâm phạm tài sản hoặc nhân thân của người khác gây ra thiệt hại, thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường tuỳ theo lỗi của người gây thiệt hại. Lỗi cố ý thường coi như có tính nghiêm trọng, nên tiền bồi thường thường tăng gấp đôi, thậm chí đôi khi còn tăng gấp ba . Ví dụ: trong Quốc triều Hình luật, Điều 435 “ .lột lấy những quần áo và đồ vật của trẻ con, người điên, người say, thì phải tội đồ và phải bồi thường gấp đôi”. Điều 437 “quan giám lâm, người coi kho mà tự lấy trộm thì xử như tội ăn trộm thường và phải bồi thường tang vật gấp hai lần”. Điều 445 “bắt trộm cá ở đầm ao, thì . phải bồi thường gấp đôi .”. Điều 448 “những người cầm cố cho người ta mà lấy trộm văn tự cầm, thì . phải bồi thường gấp đôi cho gia chủ”. Điều 581 “người thả trâu, ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta, thì xử biếm một tư và đền gấp đôi sự thiệt hại. Nếu vì trâu ngựa chạy lồng lên, không kìm hãm được thì được miễn tội trượng”.
    Trong trường hợp, thiệt hại xảy ra do lỗi vô ý, thì mức bồi thường được giảm trong một số trường hợp. Ví du: trong Quốc triều Hình luật, Điều 473 “ . nhân lúc xảy ra mà lăng mạ người ta, thì . phải nộp một nửa tiền tạ”, Điều 494 “người trông nom công dịch mà đánh người phục dịch đến chết . nếu ngộ sát, thì phải đền tiền mai táng 20 quan .”, Điều 498 “vì chơi đùa mà làm người khác bị thương hay chết . bắt trả tiền mai táng 20 quan .”. Điều 111 Hoàng Việt luật lệ quy định: người giữ kho thu thuế lương mà không đúng bằng dấu của quan thì bị phạt. Số lượng dư ấy được trả về cho chủ. Quan lại biết mà không tố cáo thì đồng tội với người giữ kho, không biết thì không tội. Điều 261 Hoàng Việt luật lệ dự liệu rằng trong trường hợp vô ý giết người (thất sát) phạm nhân bị phạt tội giảo nhưng được chuộc bằng tiền và phải chịu tiền mai táng.
    Qua các ví dụ trên đây, chúng ta nhận thấy các nhà làm luật thời kỳ phong kiến chưa phân định rõ trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự nên tiền bồi thường thiệt cũng được coi như một hình phạt có tính thị uy, răn đe, ngăn ngừa người khác. Do đó, trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người gây thiệt hại, việc bồi thường tăng gấp đôi, gấp ba thực chất là biện pháp hình phạt.
    Quan điểm trên đây của pháp luật phong kiến khác biệt với các nguyên tắc của dân luật hiện đại. Trong pháp luật dân sự hiện đại có sự phân định rõ ràng giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, cho nên việc bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp thiệt hại thực tế, để lập lại trạng thái ban đầu như trước khi xảy ra thiệt hại. Việc bồi thường được dựa trên nguyên tắc “thiệt hại bao nhiêu phải bồi thường bấy nhiêu”, nói cách khác “thiệt hại xảy ra phải được bồi thường toàn bộ”. Người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại toàn bộ thiệt hại, bất luận người đó có lỗi cố ý hay vô ý.
     
Đang tải...